- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Mạnh H - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2023/HS-ST Ngày: 18/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Chung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Trứ
Ông Lê Thanh Miện
Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 18/9/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2023/TLST-HS ngày 05/9/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2023/QĐXXST-HS ngày 06/9/2023, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Lê Mạnh H, sinh năm 1996. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.
- Nơi thường trú: thôn T, xã H, H, Bắc Giang.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 10/12.
- Con ông: Lê Văn M, sinh năm 1972; Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1977; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1998. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
- Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ- Công an huyện Hiệp Hòa ( có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Hà Văn H1, sinh năm: 1974 ( Vắng mặt)
Trú tại: thôn H2, xã X, Lạng Giang, Bắc Giang
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Anh Ng, sinh năm: 1979 ( vắng mặt)
Trú tại: TDP Tr, thị trấn Th, H, Bắc Giang
2. Anh Nguyễn Ngọc Kh, sinh năm: 1974 ( vắng mặt)
Trú tại: TDP S, thị trấn Th, H, Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 15 phút ngày 01/8/2023 tại Tổ dân phố số 2, thị trấn Th, huyện H, tỉnh Bắc Giang Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa bắt quả tang Lê Mạnh H, sinh năm 1996, Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang có hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) bên trong có một túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ chứa 21 viên nén (20 viên màu hồng đỏ, 01 viên màu xanh); (Đã được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT)
- 03 (ba) túi nilon màu trắng, một đầu đều có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ trong đó: 01 túi chứa 05 viên nén màu hồng đỏ, 01 túi chứa 06 viên nén màu hồng đỏ, 01 túi chứa 16 đoạn ống nhựa màu trắng, có kẻ sọc màu trắng, đều được hàn kín hai đầu đều chứa tinh thể màu trắng; (Đã được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT);
- 01 túi giả da màu đen có quai đeo; 01 căn cước công dân mang tên Lê Mạnh H; 01 điện thoại di động Iphone số imei 353288079572537; Tiền mặt 4.000.000đồng; 01 xe mô tô Yamaha, sirius màu đen biển kiểm soát 98M2-7404 đã qua sử dụng. (Bút lục số 12-15)
Hồi 15 giờ 45 phút cùng ngày 01/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Mạnh H, kết quả: Không thu giữ gì. (Bút lục số 23-24)
Ngày 01/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ khi bắt quả tang được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT”.
Tại Kết luận giám định số 1442/KL-KTHS ngày 07/8/2023, của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
Trong 01 (một phong bì có ký hiệu "QT" đã được niêm phong gửi giám định:
- 21 (hai mươi mốt) viên nén (trong đó có: 20 (hai mươi) viên nén màu hồng đỏ và 01 (một viên nén màu xanh) đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) là ma túy, có tổng khối lượng 1,994 gam, loại Methamphetamine.
- 05 (năm) viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khỏa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng: 0,445 gam, loại Methamphetamine.
- 06 (sáu) viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng 0,493 gam, loại Methamphetamine.
Chất tinh thể màu trắng đựng trong 16 (mười sáu) đoạn ống nhựa màu trắng có kẻ sọc màu trắng được hàn kín hai đầu, được đựng trong 01 (một) tui nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng: 0,993 gam, loại Methamphetamine. (Bút lục số 17-18)
Quá trình điều tra Lê Mạnh H khai nhận:
Khoảng hơn 8 giờ ngày 01/8/2023, H một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98M2- 7404 từ nhà xuống khu vực C thuộc địa phận phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh mua ma túy sử dụng. Khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày đến nơi, H gặp một người đàn ông tên Đ khoảng 40 tuổi, người gầy, khoảng khoảng 1 mét 65, H đưa cho Đ 3 triệu đồng và nói bán cho một nửa hồng phiến, một nửa đá, Đ cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đi, khoảng 20 phút sau quay lại, Đ đưa cho H một gói giấy ăn màu trắng, H mở ra kiểm tra thấy: có 04 túi nilon màu trắng, trong đó 01 túi nilon đựng 21 viên nén, 01 túi nilon đựng 06 viên nén, 01 túi nilon đựng 05 viên nén, 01 túi nilon đựng 16 đoạn ống nhựa trong các đoạn này đều có tinh thể màu trắng, H biết đó là ma túy ngựa, đá. Sau đó H dùng giấy ăn gói lại, giấu vào túi quần phía sau đang mặc điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, H bỏ gói ma túy mua được của Đ lúc trước, lấy 03 túi ni lon đựng ma túy trong đó 01 túi đựng 06 viên, 01 túi nilon đựng 05 viên, 01 túi nilon đựng 16 đoạn ống nhựa ra cho vào chiếc túi giả da màu đen đeo trên người, 01 túi nilon đựng 21 viên ma túy H gói bằng giấy ăn màu trắng giấu vào túi quần phía sau bên trái rồi điều khiển xe mô tô xuống khu vực Trung tâm y tế huyện H uống nước. Khi đi đến khu vực đèn xanh đèn đỏ thuộc Tổ dân phố S2, thị trấn Th, huyện H, tỉnh Bắc Giang thì bị Công an huyện Hiệp Hòa phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng có liên quan.
Ngày 01/8/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với H bằng phương pháp sử dụng Que tets nước tiểu, kết quả xét nghiệm H dương tính với ma túy.
Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 76/CT-VKS-HH ngày 30/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Lê Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Mạnh H từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2023.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo H 01 xe mô tô Yamaha sirius màu đen, biển kiểm soát 98M2-7404, số khung: RLCS3S410-6Y018406, số máy: 3S41-018406; số tiền 4.000.000 đồng; 01 điện thoại di động phone số imei: 353288079572537; 01 căn cước công dân số: 024096003711 mang tên Lê Mạnh H. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi giả da màu đen, có quai đeo; 01 phong bì ký hiệu “QT” đựng vật chứng đã niêm phong hoàn lại sau giám định và 01 phong bì có ký hiệu “ĐT”.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người có quyền lợi liên quan là anh Hà Văn H1 và người làm chứng là anh Nguyễn Văn Ng, anh Nguyễn Ngọc Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng theo Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều thừa nhận: Hồi 13 giờ ngày 01/8/2023, tại tổ dân phố số 2, thị trấn Th, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa bắt quả tang Lê Mạnh H đang có hành vi tàng trữ trái phép 3,925 gam chất ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ cho đời sống cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, là nguy cơ lây truyền các căn bệnh xã hội như HIV, AIDS… Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển… trái phép chất ma tuý. Đảng và Nhà nước ta đang quyết tâm loại trừ tệ nạn này.
Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền lợi chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội nên cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi lượng hình.
Xét về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người đàn ông tên Đ bán ma túy cho H ngày 01/8/2023, theo lời khai của H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã xác minh tại khu vực C thuộc địa phận phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh không có đối tượng nào mua bán hoặc có biểu hiện mua bán trái phép chất ma tuý như lời khai của H. Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến người thanh niên này ra khỏi hồ sơ vụ án tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Về vật chứng của vụ án gồm: Đối với xe mô tô Yamaha sirius, biển kiểm soát 98M2-7404 là xe H mua lại, kết quả tra cứu xe không nằm trong hệ thống xe vật chứng; số tiền 4.000.000 đồng; 01 điện thoại di động phone; 01 căn cước công dân mang tên Lê Mạnh H là tài sản, giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Đối với 01 túi giả da màu đen, có quai đeo; 01 phong bì ký hiệu ‘”QT” đựng vật chứng đã niêm phong hoàn lại sau giám định và 01 phong bì có ký hiệu “ĐT” cần tịch thu tiêu hủy.
Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Về hình phạt:
Xử phạt: Lê Mạnh H: 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/8/2023. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo H 01 xe mô tô Yamaha sirius màu đen, biển kiểm soát: 98M2-7404, số khung: RLCS3S410-6Y018406, số máy: 3S41-018406; số tiền 4.000.000 đồng; 01 điện thoại di động phone số imei: 353288079572537; 01 căn cước công dân số: 024096003711 mang tên Lê Mạnh H. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu tiêu hủy 01 túi giả da màu đen, có quai đeo; 01 phong bì ký hiệu “QT” đựng vật chứng đã niêm phong hoàn lại sau giám định và 01 phong bì có ký hiệu “ĐT”.
3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Hiệp Hòa; -CQĐT,CQTHAHS Công an huyện Hiệp Hòa; - Trại Tạm giam CA tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - UBND xã H; - Bị cáo; Đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Chung |