vanban.org

Bản án 73/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hải H. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hải H được ly hôn với ông Hà Vương V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/11/2023.
“V/v: Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Chất

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha

Ông Hoàng Mỹ Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 281/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXX-ST ngày 03 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hải H, sinh năm 1993 (Có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Hà Vương V, sinh năm 1988 (Có đơn xin vắng mặt)

Cùng trú tại: ấp 3, xã T, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Hải H trình bày: Tôi và ông Hà Vương V tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, Đồng Xoài, Bình Phước vào ngày 26/11/2012. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, tôi không có việc làm do phải ở nhà nuôi con, không phụ giúp kinh tế cho gia đình từ đó vợ chồng hay gây gổ, cãi vã lẫn nhau. Chúng tôi đã hòa giải với nhau nhiều lần nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm của tôi đối với ông V không còn nên mong Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông V.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Trong thời gian chung sống chúng tôi có 03 con chung là cháu Hà Tiến T, sinh ngày 25/12/2012; cháu Hà Tiến G, sinh ngày 17/12/2013 và Hà Ngọc An N, sinh ngày 31/8/2021. Tuy nhiên, nay để đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho các con tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được trực tiếp nuôi cháu Hà Ngọc An N, sinh ngày 31/8/2021, còn cháu Hà Tiến T, sinh ngày 25/12/2012 và cháu Hà Tiến G, sinh ngày 17/12/2013 thì giải quyết theo nguyện vọng của các cháu. Không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Hà Vương V trình bày: Tôi và bà Nguyễn Hải H đã tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, Đồng Xoài, Bình Phước vào năm 2012. Trong thời gian chung sống thì do bất đồng quan điểm nên có xảy ra cải vả, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Nay bà H làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn thì tôi không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của bà H.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Trong thời gian chung sống có 03 con chung là cháu Hà Tiến T, sinh ngày 25/12/2012; cháu Hà Tiến G, sinh ngày 17/12/2013 và Hà Ngọc An N, sinh ngày 31/8/2021. Nếu phải ly hôn tôi có nguyện vọng nuôi cả ba con, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng, thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu; Các đương sự chấp hành yêu cầu của Tòa án về việc giao nộp chứng cứ. Nguyên đơn, bị đơn xin vắng mặt tại phiên tòa là đúng pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hải H, cho bà Nguyễn Hải H được ly hôn với ông Hà Vương V.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao 02 con chung Hà Tiến T, sinh ngày 25/12/2012 và Hà Tiến Sang, sinh ngày 17/12/2013 cho ông Hà Vương V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Giao 01 con chung Hà Ngọc An N sinh ngày 31/8/2021 cho bà Nguyễn Hải H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Bà H, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Hải H đứng đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn là ông Hà Vương V cư trú tại ấp 3, xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Nguyễn Hải H và ông Hà Vương V có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của bà H, ông V là hợp lệ. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, Đồng Xoài, Bình Phước vào ngày 26/11/2012 là hợp pháp. Sau khi kết hôn, bà H và ông V thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cải vã, không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc cho nhau, tình cảm vợ chồng không còn, đã hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông V. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông V cũng thừa nhận trong quá trình vợ chồng chung sống thường xuyên cải vã, không còn quan tâm đến nhau, mâu thuẫn hôn nhân đã đến mức trầm trọng, nay bà H yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn thì ông V không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của bà H.

Hội đồng xét xử xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng hiện nay bà H và ông V đều thừa nhận trong quá trình vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cải vã, không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc cho nhau, tình cảm vợ chồng không còn, đã hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn hôn nhân đã đến mức trầm trọng. Mặc dù đã được tòa án tiến hành hòa giải để cả hai người có cơ hội quay về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng không thành, việc bà H xin ly hôn với ông V là có căn cứ vì vậy cần chấp nhận cho bà H ly hôn với ông V là phù hợp với quy định pháp luật.

[4]. Về con chung: Bà Nguyễn Hải H và ông Hà Vương V có 03 con chung gồm: Hà Tiến T, sinh ngày 25/12/2012, Hà Tiến Sang, sinh ngày 17/12/2013 và Hà Ngọc An N, sinh ngày 31/8/2021.

Bà H khởi kiện yêu cầu được nuôi cả ba con, yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng/con. Tại biên bản lấy lời khai bà H thay đổi yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết cho bà H được nuôi con Hà Ngọc An N còn Hà Tiến T và Hà Tiến Sang thì giải quyết theo nguyện vọng của hai con.

Ông V yêu cầu Tòa án giải quyết nếu phải ly hôn thì có nguyện vọng nuôi cả ba con.

Tại bản tự khai cháu Hà Tiến Sang và Hà Tiến T trình bày: Nếu ba mẹ không ở với nhau nữa thì các cháu có nguyện vọng được ở với ba.

Xét thấy cháu Hà Tiến T sinh ngày 25/12/2012 và Hà Tiến Sang sinh ngày 17/12/2013 đã trên 07 tuổi có nguyện vọng được ở với ba, mặt khác ông Hà Vương V cũng có nguyện vọng được nuôi con và cũng để đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần cũng như vì tương lai sau này của các cháu nên Hội đồng xét xử nên căn cứ quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình giao 02 con chung Hà Tiến T, sinh ngày 25/12/2012, Hà Tiến S, sinh ngày 17/12/2013 cho ông Hà Vương V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Con chung Hà Ngọc An N, sinh ngày 31/8/2021 còn nhỏ tuổi, chưa đủ 36 tháng tuổi ở với mẹ được mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, nên căn cứ quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung Hà Ngọc An N sinh ngày 31/8/2021 cho bà Nguyễn Hải H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[5]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H, ông V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về tài sản chung, cho vay chung và nợ chung: Bà H, ông V tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bà H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm.

[8]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài là có căn cứ nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hải H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hải H được ly hôn với ông Hà Vương V.

2. Về con chung:

Giao 02 con chung Hà Tiến T, sinh ngày 25/12/2012 và Hà Tiến Sang, sinh ngày 17/12/2013 cho ông Hà Vương V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

Giao 01 con chung Hà Ngọc An N sinh ngày 31/8/2021 cho bà Nguyễn Hải H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H và ông V tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung, cho vay chung và nợ chung: Bà H và ông V tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005171 ngày 05/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

5. Quyền kháng cáo: Bà H và ông V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ