- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà H xin ly hôn với ông S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đưa ra; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15/09/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN VĨNH CỬU – TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hồng Quyên
Bà Vũ Thị Hảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân
Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
tham gia phiên tòa: Ông Cao Kỷ Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 270/2023/TLST – HNGĐ ngày 26 tháng 06 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/08/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 135/2023/QĐST – HNGĐ ngày 28/08/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1989.
Địa chỉ thường trú: Số nhà M, tổ H, ấp H, xã T, Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1987.
Địa chỉ thường trú: Số nhà M, tổ H, ấp H, xã T, Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
(Bà Nguyễn Thị Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông Nguyễn Văn S vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Nguyễn Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2007 ngày 20/8/2007. Thời gian đầu chung sống, tình cảm vợ chồng tốt đẹp và hạnh phúc, tuy Nên khi sinh con thứ 2 thì giữa bà và ông S liên tục phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông S thường xuyên gây gỗ vô cớ dẫn đến tình cảm vợ chồng sứt mẻ, thiếu sự tôn trọng đối với nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống, cả hai đã không còn tiếng nói chung. Năm 2020, bà đã từng nộp đơn khởi kiện, tuy Nên vì muốn các con có đầy đủ cả cha và mẹ nên sau đó bà đã rút đơn để hai vợ chồng H giải, nhưng tình cảm vẫn không cải thiện, đời sống tình cảm luôn trong trạng thái căng thẳng. Hiện nay, nhận thấy tình cảm với chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà làm đơn xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 29/08/2007 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 14/3/2010. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Thị Ngọc N; giao cháu Nguyễn Gia H cho ông Nguyễn Văn S trưc tiếp trông nom, chăm sóc và giáo dục; về cấp dưỡng thì không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về điều kiện để yêu cầu nuôi cháu N bà cam kết bà đủ điều kiện vì hiện tại bà đang có công việc tự do ổn định với mức lương được trả là 10 triệu đồng 1 tháng tại một cơ sở chăm sóc sắc đẹp và mức trợ cấp thôi việc 7.210.000đ/1 tháng từ công việc ở công ty cũ.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H khai hai vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H khai hai vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Lời khai của bị đơn ông Nguyễn Văn S: Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông S vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không nộp bản tự khai, không có văn bản giải trình, không đến Tòa án làm việc và tham gia phiên tòa. Vì vậy, không có lời trình bày.
- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Hện Vĩnh Cửu:
Về việc kiểm sát chấp hành pháp luât tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật.
Về việc giải quyết tranh chấp: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Văn S vì tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống hôn nhân không đạt được.
Về con chung: Bà H và ông S trong thời kỳ hôn nhân có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 29/08/2007 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 14/3/2010. Do cháu Nguyễn Thị Ngọc N có bản tự khai thể hiện nguyện vọng muốn được ở với bà H, đồng thời bà H cũng có tài liệu, chứng cứ thể hiện đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt chau N; do đó chấp nhận cho yêu cầu cùa bà Nguyễn Thị Ngọc H được nuôi dưỡng cháu N. Giao cháu Nguyễn Gia H cho ông Nguyễn Văn S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đúng với nguyện vọng của cháu H và nội dung xác minh của Tòa án nhân dân Hện Vĩnh Cửu về con đang trực tiếp sinh sống cùng ông S. Về cấp dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Ngọc H khai hai vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án phải giải quyết.
- Về nợ chung: Khi ly hôn, bà H xác định cả hai vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án phải giải quyết.
Tuy Nên, do ông S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông S, nên sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Nguyễn Văn S, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết: Theo địa chỉ trong đơn khởi kiện và biên bản xác minh tại Công an xã T, Hện Vĩnh Cửu cung cấp thông tin ông Nguyễn Văn S đang sinh sống tại địa chỉ: Số nhà M, tổ H, ấp H, xã T, Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và H giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và H giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân:
. Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Nguyễn Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2007 ngày 20/8/2007, nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
. Quá trình tố tụng bà H xác định giữa bà và ông S phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, ông S thường xuyên gây gỗ vô cớ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, không còn tôn trọng lẫn nhau. Năm 2020, bà đã từng nộp đơn khởi kiện, tuy Nên vì muốn các con có đầy đủ cả cha và mẹ nên sau đó bà đã rút đơn để hai vợ chồng H giải, nhưng tình cảm vẫn không cải thiện, đời sống tình cảm luôn trong trạng thái căng thẳng. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án H giải nhưng ông S vẫn không đến Tòa án để làm việc như vậy thể hiện ông S không quan tâm đến hôn nhân với bà H. Qua xác minh tình trạng hôn nhân giữa hai vợ chồng tại nơi cư trú, được địa phương cung cấp thông tin quá trình sinh sống tại địa phương xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, gia đình và địa phương cũng đã cố gắng H giải nhưng không có kết quả. Như vậy, lời trình bày của bà H và các tài liệu, chứng cứ thể hiện bà H và ông S xảy ra mâu thuẫn, kết quả xác minh tại địa phương phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông S đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo Điều 19 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Xét thấy, hôn nhân giữa cả hai đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét chấp nhận yêu cầu của bà H xin ly hôn với ông S là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Nguyễn Văn S trong thời kỳ hôn nhân có 02 con chung là các cháu Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 29/08/2007 và cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 14/3/2010. Ly hôn bà H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu N, tự nguyện giao cháu H cho ông S nuôi dưỡng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con” Do cháu Nguyễn Thị Ngọc N có bản tự khai thể hiện nguyện vọng muốn được ở với bà H, đồng thời bà H cũng có tài liệu, chứng cứ thể hiện đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt cháu N; Ông S không lên Tòa làm việc, không ghi nhận được nguyện vọng của ông S về việc nuôi con chung, nhưng để đảm bảo cuộc sống của cháu N và cháu H được ổn định, việc xem xét để ai trực tiếp nuôi con cần đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử giao cháu N cho bà H, giao cháu H cho ông S được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà H và ông S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông S, bà H thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không cấp dưỡng nuôi con chung, ông S không lên Tòa làm việc và không ghi nhận được nguyện vọng của S nên không xem xét giải quyết.
. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc H khai về tài sản chung hai vợ chồng tự thỏa thuận, Về nợ chung, bà H khai không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy Nên. Do ông Nguyễn Văn S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông S, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xát giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Vĩnh Cửu là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Ngọc H phải nộp 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 9; Điều 11; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83; khoản 1 Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 8 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Văn S.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
1.2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 29/08/2007 cho bà Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 14/3/2010 cho ông Nguyễn Văn S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, bà H và ông S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trợ. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
1.3. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
1.4. Về nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải nộp 300.000đ án phí, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0005336 ngày 26/06/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Hện Vĩnh Cửu. Bà Nguyễn Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh;
- VKS ND tỉnh;
- VKSND Hện VC;
- THA dân sự ;
- Đương sự;
- UBND xã (phường) nơi ĐKKH;
- Lưu.
Nguyễn Mạnh Tuấn
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Mì Nguyễn Ngọc Anh
Đồng Thị Hồng TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM HỆN VĨNH CỬU
Ñoäc Laäp – Töï do – Haïnh Phuùc
TÆNH ÑOÀNG NAI
BIEÂN BAÛN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 06/12/2021,
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Vôùi hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:
Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Đồng Thị Hồng
Caùc Hoäi thaåm nhaân daân: OÂng Nguyễn Ngọc Anh.
Ông Lê Văn Mì.
Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 74/2021/TLST – HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2021, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/10/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 168/2021/QĐST – HNGĐ ngày 05/11/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thương, sinh năm 1974.
- Bị đơn: Ông Trương Thành Long, sinh năm 1973.
Cùng địa chỉ: Tổ 09E, ấp 1, xã Thạnh Phú, Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
(Bà Nguyễn Thị Thương có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông Trương Thành
Long vắng mặt không có lý do).
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU
Về tố tụng:
- Ý kiến của Hội thẩm Mì: Bà Nguyễn Thị Thương khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trương Thành Long; Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà Thương là nguyên đơn còn ông Long là bị đơn trong vụ án.
- Ông Trương Thành Long có địa chỉ cư trú hiện nay tại số: Tổ 09E, ấp 1, xã Thạnh Phú, Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Tòa án đã Nều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Long tại địa chỉ này, nhưng ông Long vẫn vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ; H giải và tham gia phiên tòa. Ngoài ra, bà Thương cũng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 06/12/2021. Do đó, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đưa ra xét xử vắng mặt bà Thương và ông Long.
- Ý kiến của Hội thẩm Anh: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Bình.
- Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí.
Về quan hệ hôn nhân:
- Ý kiến của Hội thẩm Anh: Xét yêu cầu ly hôn của bà Thương là có cơ sở chấp nhận vì theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quý trọng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Nhưng, trong quá trình chung sống bà Thương xác nhận cả hai chỉ hạn phúc được thời gian đầu, sau đó thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã không còn hạnh phúc nguyên nhân là ông Long thiếu trách Nệm với gia đình và vợ con, dẫn đến cả hai không tôn trọng và không còn yêu thương giữa chồng với vợ, cuộc sống và mục đích hôn nhân không đạt được. Theo Biên bản xác minh UBND xã Thạnh Phú thì giữa bà Nguyễn Thị Thương và ông Trương Thành Long có đăng ký kết hôn theo quy định, tuy Nên mâu thuẫn vợ chồng xảy ra như thề nào thì do các đương sự không yêu cầu H giải nên địa phương không nắm. Tuy Nên, theo Biên bản xác minh của Công an xã Thạnh Phú thì hiện nay ông Trương Thành Long vẫn đang cư trú và sinh sống tại địa chỉ: Tổ 09E, ấp 1, xã Thạnh Phú, Hện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, trong quá trình làm việc, mặc dù ông Long đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án Nều lần, nhưng đều cố ý vắng mặt, thể hiện việc không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, phó mặc cho bà Nguyễn Thị Thương tiến hành thủ tục ly hôn tại Tòa án. Như vậy, có thể thấy việc mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng giữa ông Long và bà Thương là có thật, đời sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Thương được ly hôn với ông Trương Thành Long.
- Ý kiến của Hội thẩm Mì: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Anh.
- Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí.
Về con chung:
- Ý kiến của Hội thẩm Mì: Không xem xét giải quyết do con đã trưởng thành và có khả năng lao động.
- Ý kiến của Hội thẩm Anh: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Mì.
- Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí.
Về tài sản chung và nợ chung:
- Ý kiến của Hội thẩm Anh: bà Thương xác định tài sản chung hai vợ chồng tự thỏa thuận; Nợ chung vợ chồng bà không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy Nên. Do ông Trương Thành Long vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của ông Long, nên sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Ý kiến của Hội thẩm Mì: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Anh.
- Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí.
Về án phí:
- Ý kiến của Hội thẩm Anh: Bà Nguyễn Thị Thương phải nộp 300.000đ án phí.
- Ý kiến của Hội thẩm Mì: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Anh.
- Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí.
Về quyền kháng cáo:
- Ý kiến của Hội thẩm Mì: Bà Nguyễn Thị Thương và ông Trương Thành Long có quyeàn khaùng caùo trong thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy nhaän ñöôïc baûn aùn hoaëc được tống đạt hợp lệ bản án.
- Ý kiến của Hội thẩm Anh: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Mì.
- Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí.
Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 06 tháng 12 năm 2021.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Mì Nguyễn Ngọc Anh
Đồng Thị Hồng
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND TP.Biên H; - THA dân sự ; - Đương sự; - UBND xã (phường); - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đồng Thị Hồng Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |