vanban.org

Bản án 73/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Cẩm T ly hôn với anh Nguyễn Tấn Q.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Như Q1 (nữ), sinh ngày 05-11-2009 và Nguyễn Huỳnh N (nữ), sinh ngày 11-7-2013 cho chị Phạm Thị Cẩm T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Phạm Thị Cẩm T không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Tấn Q không trực tiếp nuôi con có q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp giữa chị Phạm Thị Cẩm T và anh Nguyễn Tấn Q"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Cẩm T ly hôn với anh Nguyễn Tấn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST
Ngày 08-5-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Út

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hữu Hiệp

Ông Trần Minh Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 08 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 371/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Cẩm T, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn Q, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Cùng cư trú: Ấp 13, xã P, huyện M tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là chị Phạm Thị Cẩm T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Cẩm T và anh Nguyễn Tấn Q tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Cà Mau vào ngày 06-12-2016. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh Q không lo làm ăn, tham gia cờ bạc không lo cho gia đình và đánh đập vợ con. Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh Q.

Về con chung: Chị T và anh Q có 02 người con chung tên Nguyễn Như Q1 (nữ), sinh ngày 05-11-2009 và Nguyễn Huỳnh N (nữ), sinh ngày 11-7-2013, hiện nay đang sống chung với chị T. Khi ly hôn, con chung có nguyện vọng sống chung với ai thì người đó nuôi dưỡng. Chị T không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị Cẩm T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản ghi nguyện vọng của con chung ngày 15-3-2023 thể hiện: Hiện nay con chung là Nguyễn Như Q1 và Nguyễn Huỳnh N đang sống chung với chị T. Trường hợp chị T và anh Q ly hôn thì cháu Q1 và cháu N có nguyện vọng được sống chung với chị T.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Tấn Q đúng theo quy định pháp luật, nhưng anh Q không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 06-02-2023, chị Phạm Thị Cẩm T có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt đúng theo quy định pháp luật; anh Nguyễn Tấn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh Q.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Cẩm T và anh Nguyễn Tấn Q tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M tỉnh Cà Mau vào ngày 06-12-2016 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Q được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Cẩm T, thấy rằng: Hiện nay chị T không còn tình cảm yêu thương anh Q và quyết tâm mong muốn được ly hôn. Đồng thời, chị T khẳng định đời sống hôn nhân không thể duy trì, mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ. Trường hợp tiếp tục chung sống với anh Q sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn với anh Q.

Về nuôi con chung: Tại văn bản ngày 15-3-2023, cháu Nguyễn Như Q1 và Nguyễn Huỳnh N có nguyện vọng sống chung với chị T. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, anh Q không có văn bản thể hiện ý kiến về quyền nuôi con. Xét điều kiện hiện nay chị T vẫn đảm bảo tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung, trên cơ sở xem xét nguyện vọng của con chung và để đảm bảo quyền lợi của con chung khi ly hôn, cần giao cháu Như Q1 và Huỳnh N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị T không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của chị T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, 56, 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Cẩm T ly hôn với anh Nguyễn Tấn Q.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Như Q1 (nữ), sinh ngày 05-11-2009 và Nguyễn Huỳnh N (nữ), sinh ngày 11-7-2013 cho chị Phạm Thị Cẩm T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Phạm Thị Cẩm T không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Tấn Q không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị Cẩm T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị Cẩm T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 10 tháng 11 năm 2022, chị Phạm Thị Cẩm T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0010806 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Chị Phạm Thị Cẩm T và anh Nguyễn Tấn Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ