vanban.org

Bản án 73/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Võ Thị Như Q.

Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị Như Q được ly hôn với anh Nguyễn Duy L. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh T, sinh ngày 18/7/2021 cho chị Võ Thị Như Q được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý. Anh Nguyễn Duy L không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Võ Thị Như Q."
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Võ Thị Như Q.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ MỸ
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST
Ngày 20-3-2024.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Truyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Tiến Dũng;

2. Ông Nguyễn Thị Mỹ Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Đinh Quốc Vương- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 276/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 310/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Như Q, sinh năm 2003 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố DT, thị trấn PM, huyện PM, tỉnh BĐ.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1994 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn TT1, xã MQ, huyện PM, tỉnh BĐ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/6/2023, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Võ Thị Như Q trình bày:

+ Về hôn nhân: Chị Võ Thị Như Q và anh Nguyễn Duy L kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MQ, huyện PM, tỉnh BĐ vào ngày 22 tháng 02 năm 2021. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian. Nhưng sau đó vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Anh L thường xuyên bài bạc, nợ nần, không quan tâm xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng không còn chung sống, quan tâm, chăm sóc nhau từ tháng 8/2022 đến nay. Chị Q nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Duy L.

+ Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Quỳnh T, sinh ngày 18/7/2021. Nếu ly hôn, chị Q yêu cầu được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý cháu T. Không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Duy L: Anh Nguyễn Duy L có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại và chỗ ở hiện nay tại thôn TT1, xã MQ, huyện PM, tỉnh BĐ. Anh L biết được Toà án đang thụ lý, giải quyết vụ kiện ly hôn của vợ chồng; được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án, nhưng anh L không có văn bản trình bày ý kiến về việc Tòa án thụ lý vụ kiện gửi đến Tòa án; cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến và hoà giải.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” và bị đơn cư trú tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo quy định của khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về việc giải quyết vụ án:

+ Về hôn nhân: Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận cho chị Võ Thị Như Q được ly hôn với anh Nguyễn Duy L.

+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh T, sinh ngày 18/7/2021 cho chị Q được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Q không yêu cầu, nên không xét.

+ Về tài sản chung: Chị Võ Thị Như Q không yêu cầu giải quyết, nên không xét.

+ Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Võ Thị Như Quỳnh phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Võ Thị Như Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Duy L được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Như Q yêu cầu “Ly hôn” nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Người bị kiện có nơi cư trú tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vu ̣ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Võ Thị Như Q và anh Nguyễn Duy L kết hôn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MQ, huyện PM, tỉnh BĐ vào ngày 22 tháng 02 năm 2021 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Chị Q cho rằng sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì lớn. Nhưng sau đó vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Anh L thường xuyên chơi cờ bạc, nợ nần, không chăm lo đến hạnh phúc gia đình. Chị Q và anh L không còn chung sống, quan tâm, chăm sóc với nhau từ tháng 8/2022 đến nay. Trong thời gian vợ chồng không chung sống với nhau chị Q và anh L không có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn của vợ chồng mà bỏ mặc hậu quả. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án cho anh L, nhưng anh L không có văn bản trình bày ý kiến đối với việc Tòa án thụ lý vụ án gửi đến Tòa án; không đến Tòa án để trình bày ý kiến, hoà giải và tại phiên tòa anh L vắng mặt. Điều này cho thấy, vợ chồng sống không hạnh phúc nhưng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét hôn nhân giữa chị Võ Thị Như Q và anh Nguyễn Duy L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có duy trì cũng không đem lại kết quả. Điều này phù hợp với thực tế và phù hợp với kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh L, chị Q tại địa phương nơi anh L cư trú. Do đó, chấp nhận cho chị Võ Thị Như Q được ly hôn với anh Nguyễn Duy L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị Võ Thị Như Q và anh Nguyễn Duy L có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Quỳnh T, sinh ngày 18/7/2021. Khi ly hôn chị Q yêu cầu được nuôi con chung.

Xét yêu cầu nuôi con của chị Q là chính đáng và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị Q là giao cháu T cho chị Q được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị Võ Thị Như Q không yêu cầu, nên không xét.

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng anh L không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Q. Khi cần thiết chị Q, anh L có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Võ Thị Như Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Võ Thị Như Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009306 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Về đề nghị của Kiểm sát viên về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Võ Thị Như Q.

1. Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị Như Q được ly hôn với anh Nguyễn Duy L.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh T, sinh ngày 18/7/2021 cho chị Võ Thị Như Q được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý. Anh Nguyễn Duy L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng anh L không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Q. Khi cần thiết chị Q, anh L có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Như Q phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm, nhưng đươc trừ vào số tiêǹ tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Q đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009306 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Võ Thị Như Q và anh Nguyễn Duy L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ