vanban.org

Bản án 73/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Châu Thị Mỹ L, cho chị L được ly hôn với anh Trần Văn M. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L yêu cầu ly hôn với anh M."
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/02/2023
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thành Công

2. Bà Huỳnh Thị Phƣợng

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Hồng Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị N Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 422/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022, về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Châu Thị Mỹ L, sinh năm xxxx. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp BK, xã TĐ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn M, sinh năm xxxx. (vắng mặt không lý do)

Địa chỉ: Ấp TP, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn ngày 26/10/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Châu Thị Mỹ L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh M quen biết, tìm hiểu được khoảng nửa năm thì tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2015; đến năm 2016 anh chị đăng ký kết hôn tại UBND xã TĐ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn. Anh M có tính ghen tuông nên nhiều lần vợ chồng xảy ra cự cãi; mỗi lần anh M đi nhậu về còn hay chửi mắng và đánh đập chị. Không thể chịu đựng được nữa nên chị bỏ về nhà mẹ ruột, anh M có đến rước chị và hứa sẽ thay đổi nhưng anh M vẫn chứng nào tật nấy. Mâu thuẫn đỉnh điểm là thời gian gần đây, anh M công khai mối quan hệ với người phụ nữ khác, thậm chí còn dẫn về nhà chung sống như vợ chồng nên chị đã về nhà mẹ ruột ở ấp BK, xã TĐ sinh sống được hơn 04 tháng nay. Hiện vợ chồng chị đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai nên chị yêu cầu được ly hôn với anh M.

- Về con chung: Chị và anh M chung sống có 02 con chung tên Trần Phú Q, sinh ngày xxxx và Trần Thị Minh N, sinh ngày xxxx, hiện 02 cháu đang sống cùng chị. Ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 1.000.000 đồng/cháu, thực hiện từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi và lao động được.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Văn M vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Châu Thị Mỹ L, chị L được ly hôn với anh Trần Văn M. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Trần Phú Q, sinh ngày xxxx và Trần Thị Minh N, sinh ngày xxxx cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng; anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện G theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không lý do dù đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu ly hôn của chị L, nhận thấy:

Vợ chồng chị kết hôn năm 2016, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TĐ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43 ngày 13/7/2016 nên là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến khoảng vài năm gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn; theo chị L trình bày thì nguyên nhân do anh M không chung thủy, vi phạm chế định hôn nhân một vợ một chồng. Hiện vợ chồng chị đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, anh M không đến Tòa án theo giấy triệu tập và cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị L; điều này cho thấy anh không còn tha thiết đến cuộc hôn nhân này. Từ những tình tiết nêu trên có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã thật sự trầm trọng và không thể hàn gắn nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị được ly hôn với anh M theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Anh chị chung sống có 02 người con chung tên Trần Phú Q, sinh ngày xxxx và Trần Thị Minh N, sinh ngày xxxx. Xét việc chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con là có cơ sở chấp nhận, vì hiện các cháu sống cùng chị đã ổn định cuộc sống về mọi mặt; riêng đối với cháu N dưới 36 tháng tuổi rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp từ mẹ; hơn nữa anh M cũng không có ý kiến phản đối. Do đó, Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là cần thiết và phù hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh M được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh M không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên đối với mức cấp dưỡng mà chị L yêu cầu là 1.000.000 đồng/tháng/cháu là không có cơ sở vì chị không chứng minh được thu nhập hiện tại của anh M cũng như chi phí nuôi dưỡng, học tập và các khoản phí sinh hoạt khác của 02 con chung nên Hội đồng xét xử chỉ có căn cứ buộc anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung với mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật là ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm cấp dưỡng (tại thời điểm xét xử là 745.000 đồng/tháng/người con). Thực hiện từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con đủ 18 tuổi, lao động được.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

- Chị L yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu án phí là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Châu Thị Mỹ L, cho chị L được ly hôn với anh Trần Văn M.

2. Về nuôi con chung:

- Giao 02 con chung tên Trần Phú Q, sinh ngày xxxx và Trần Thị Minh N, sinh ngày xxxx cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng: Anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung với mức cấp dưỡng hàng tháng là ½ (một phần hai) mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm cấp dưỡng (hiện tương đương 745.000 đồng/tháng/người con), thực hiện từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con đủ 18 tuổi, lao động được.

- Anh M được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

- Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0028213 ngày 04/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G nên xem như chị đã nộp xong án phí.

- Anh M phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ