- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Vũ Thuỵ Ngọc D và bị đơn Trần Đạt K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Ngọc Thuỵ D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” đối với anh Trần Đạt K.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07-8-2023. V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Đình Ngân;
2. Ông Thái Văn Lộc.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 179/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thuỵ Ngọc D, sinh năm 2000; Địa chỉ cư trú: Khu phố H, thị trấn CT, huyện CT, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Anh Trần Đạt K, sinh năm 1991; Địa chỉ cư trú: Khu phố H, thị trấn CT, huyện CT, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10-5-2023, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thuỵ Ngọc D trình bày: Chị và anh K tự nguyện chung sống vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Khoảng 01 năm nay vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn do anh K chơi cờ bạc thường xuyên, đến tháng 3-2023 anh K đã lấy sợi dây chuyền vàng của chị đi trả nợ cờ bạc. Cũng từ thời gian này chị bỏ về nhà mẹ ruột sống ly thân với anh Khương cho đến nay. Chị yêu cầu ly hôn với anh K, không đồng ý đoàn tụ vợ chồng.
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung tên là Trần Vũ Gia B, sinh ngày 11-10-2020. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nếu anh K không đồng ý.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Đạt K trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị D về thời gian chung sống, kết hôn. Sau kết hôn, vợ chồng anh chung sống bình thường, không có mâu thuẫn vì anh không đánh đập, chưởi mắng vợ con. Tháng 3-2023 anh có lấy sợi dây chuyền vàng hơn 10.000.000 đồng của chị D để trả nợ đánh bạc, chưa trả lại cho chị D nên chị D bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống đến nay. Anh không đồng ý ly hôn với chị D, mong muốn được đoàn tụ vợ chồng, anh hứa sẽ không chơi cờ bạc nữa.
Về con chung: Trường hợp phải ly hôn anh đồng ý giao con chung Trần Vũ Gia B, sinh ngày 11-10-2020 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên toà, chị D và anh K đều vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Các đương sự vắng mặt tại phiên toà.
+ Về nội dung: Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thuỵ Ngọc D.
Chị Vũ Thuỵ Ngọc D được ly hôn với anh Trần Đạt K. Giao con chung Trần Vũ Gia B, sinh ngày 11-10-2020 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận chị D không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Vũ Thuỵ Ngọc D khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Trần Đạt K cư trú tại thị trấn CT, huyện CT, tỉnh Tây Ninh. Do vậy vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị D, anh K đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh K tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh vào năm 2020. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Nhận thấy vợ chồng chị D và anh K xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là do anh K chơi cờ bạc, bản thân anh K mong muốn vợ chồng đoàn tụ, hứa sẽ không chơi cờ bạc nữa nhưng không được chị D chấp thuận.
Xét thấy cuộc sống hôn nhân của chị D và anh K không mang lại hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ, do vậy Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị D đối với anh K theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về con chung: Chị D, anh K đều thống nhất trường hợp ly hôn sẽ giao con chung Trần Vũ Gia B, sinh ngày 11-10-2020 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; chị D không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị D, anh K trình bày không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị D phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng theo quy định pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Ngọc Thuỵ D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” đối với anh Trần Đạt K.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thuỵ Ngọc D được ly hôn với anh Trần Đạt K.
- Về con chung: Giao con chung Trần Vũ Gia B, sinh ngày 11-10-2020 cho chị Vũ Thuỵ Ngọc D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận chị D không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Vũ Thuỵ Ngọc D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí khởi kiện chị đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0018504 ngày 12-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị D đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành hành án dân sự. án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án./.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-TAND tỉnh TN; - VKSND H.Châu Thành; - CCTHADS H.Châu Thành; - UBND thị trấn Châu Thành; - Đương sự; - Löu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Bùi Thị Liên |