- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hon"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tấn K đối với chị Đoàn Thị M. Anh Nguyễn Tấn K được ly hôn với chị Đoàn Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST 29-3-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Nương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Trần Phúc.
2. Ông Hoàng Đình Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công Kvụ án thụ lý số: 420/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023. Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2023/QĐST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tấn K, sinh năm 1987; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp Cầy X, xã Đồng K, huyện C T, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Chị Đoàn Thị M, sinh năm 1991; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, ấp Cầy X, xã Đồng K, huyện C T, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 11 năm 2022 và các lời Ktrong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Tấn K trình bày:
Anh và chị Đoàn Thị M chung sống với nhau vào năm 2010, đến ngày 01/10/2012 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng K, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn kéo dài cho đến nay; Nguyên nhân: Do bất đồng ý kiến, không đồng chung quan điểm, chị M thường xuyên chơi bài bạc gây nợ nần về anh khuyên ngăn thì vợ chồng cãi nhau, chị M bỏ nhà đi từ tháng 02/2022 cho đến nay. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh yêu cầu ly hôn với chị M.
Về con chung: Có 01 người tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 01/7/2011, anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn chị Đoàn Thị M được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến nên không có lời trình bày của chị.
Tại phiên tòa, anh Khai, chị M, vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân sự, không có vi phạm. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tấn K đối với chị Đoàn Thị M, có cơ sở chấp nhận cho anh K và chị M được ly hôn. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 01/7/2011 cho anh Nguyễn Tấn K được nuôi dưỡng. Chị Đoàn Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con vì anh Kkhông yêu cầu. Ghi nhận tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng: Anh Nguyễn Tấn K có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Đoàn Thị M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt anh Khai, chị M.
. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tấn K và chị Đoàn Thị M chung sống với nhau năm 2010, đến ngày 01/10/2012 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng K, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
. Về mâu thuẫn của vợ chồng: Anh Nguyễn Tấn K trình bày trong biên bản lấy lời Kngày 23/12/2022: Trong quá trình sống chung, anh, chị thường bất đồng ý kiến, không đồng chung quan điểm, chị M thường xuyên chơi bài bạc gây nợ nần về anh khuyên ngăn thì vợ chồng cãi nhau, chị M bỏ nhà đi từ tháng 02/2022 cho đến nay. Nay anh thấy mâu thuẫn của vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh xin được ly hôn với chị Đoàn Thị M.
. Đối với chị Đoàn Thị M đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc nhưng chị vắng mặt không đến phiên tòa nên không có ý kiến trình bày. Điều đó cho thấy chị M bỏ mặc và không muốn hàn gắn tình cảm với anh Kđể vợ chồng cùng nuôi dưỡng con. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Kvà chị M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của anh Kxin ly hôn với chị M theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.
. Về con chung: Vợ chồng anh Kvà chị M có 01 con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 01/7/2011. Giao cho anh Nguyễn Tấn K được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Chị M không phải cấp dưỡng nuôi con vì anh Kkhông yêu cầu. Hội đồng xét xử xét thấy chị M không đến phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến. Anh K có cư trú ổn định và thu nhập ổn định bảo đảm cuộc sống và quyền lợi về mọi mặt cho con, nên căn cứ khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Chi cho anh Ktrông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp.
. Về tài sản chung: Anh Kkhông yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung anh xác định không có nên không đặt ra giải quyết.
. Về án phí: Do anh Nguyễn Tấn K là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Chị Đoàn Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tấn K đối với chị Đoàn Thị M. Anh Nguyễn Tấn K được ly hôn với chị Đoàn Thị M.
2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Tấn K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 01/7/2011. Chị M không phải cấp dưỡng nuôi con vì anh Kkhông yêu cầu.
Chị Đoàn Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở chị M thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung: Anh Kkhông yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết;
4. Về nợ chung: Không có, nên không đặt ra giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Nguyễn Tấn K phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0017931 ngày 08/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Anh Nguyễn Tấn K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ghi nhận anh Kđã nộp xong.
Chị Đoàn Thị M không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu: Tập án; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) Phạm Thị Kim Nƣơng |