- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dương Thị Thuý L được ly hôn anh Thạch L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:73/2023/HNGĐ-ST Ngày:19/6/2023 “V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tranh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Mai Thanh Chúc
2.Ông Nguyễn Trung Hoà
- Thư ký phiên tòa: Ông Chung Hữu Toàn – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh: Ông Nguyễn Tấn An, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 211/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 về việc “ Tranh chấp ly hôn và nuôi con ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 30/5/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thuý L, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt;
Bị đơn: Anh Thạch L, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Tòa án và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Dương Thị Thuý L trình bày và yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân:Vào năm 2004 chị và anh Thạch L tự nguyện xác lập hôn nhân, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh vào ngày 06/12/2004. Sau khi cưới vợ chồng sống với mẹ chị tại xã V, sống hạnh phúc được khoản 03 năm thì xảy ra mâu thuẩn, nguyên nhân do anh L không tin tưởng chị, anh L hay ghen và xúc phạm danh dự, nhân phẩm, anh L không cùng chung chí hướng với chị, nhưng vì con còn nhỏ chị cố gắng chịu đựng để nuôi con, chị nhận thấy đời sống hôn nhân không thể kéo dài nữa nên cuối năm 2022 thì ly thân, anh L về nhà cha mẹ ruột sống tại Ấp B, xã H, huyện C, thời gian ly thân chị và anh L không gặp nhau bàn bạc việc đoàn tụ, vì vậy chị L yêu cầu ly hôn với anh L.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Thạch Ngân T, sinh ngày 23/02/2006, đang sống chung với chị L, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Đối với bị đơn anh Thạch L, mặc dù sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Linh không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, không có yêu cầu phản tố hay cung cấp chứng cứ gì. Anh L vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh L vắng mặt nên không có lời trình bày.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thụ lý hồ sơ vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cho chị L ly hôn anh L. Về con chung: Giao con chung cho chị L nuôi theo nguyện vọng của con.Về cấp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.Về tài sản chung, về nợ chung: Chị L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa chị L và anh L là tranh chấp về ly hôn, nuôi con; bị đơn đang cư trú tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Tại phiên tòa hôm nay, anh Thạch L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh L vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Linh.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị L và anh L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh vào năm 2004 là đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình xác định hôn nhân của chị L và anh L là hợp pháp.
Xét yêu cầu của chị L xin ly hôn anh L, theo lời khai của chị L tại Tòa án và tại phiên tòa hôm nay thì trong thời gian chung sống do anh L không tin tưởng chị, giữa chị và anh L thường xuyên cải nhau, anh L xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị, sống chung không còn hạnh phúc, tại Tòa chị L cương quyết xin được ly hôn thì thấy rằng qua xác minh của Tòa án, Cha của anh L trình bày nguyên nhân mâu thuẩn giữa chị L và anh L là do bất đồng quan điểm sống trong công việc, trong sinh hoạt hằng ngày, việc chị L xin ly hôn anh L không có ý kiến gì, vợ chồng có 01 con chung, con theo ai người đó nuôi, tài sản chung, nợ chung anh L cũng không có yêu cầu gì.
Về phía anh L đã đượcTòa án tống đạt các văn bản tố tụng, anh L biết việc chị L xin ly hôn nhưng anh L không đến Tòa, không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa, không có yêu cầu phản tố hay cung cấp chứng cứ gì để Tòa xem xét về hôn nhân của anh chị, điều đó chứng minh rằng anh L không còn quan tâm đến cuộc sống vợ chồng giữa anh và chị L.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh L là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L xin ly hôn là có căn cứ được quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Thạch Ngân T, sinh ngày 23/02/2006, đang sống chung với chị L, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi và Thạch Ngân T có nguyện vọng được sống chung với mẹ là chị L.
Xét thấy con chung tên Thạch Ngân T hiện tại đang sống chung với chị L và có nguyện vọng tiếp tục sống chung với L, cuộc sống của con cũng đã ổn định, tình cảm giữa chị L và con gắng bó hơn, mặt khác con vẫn khỏe mạnh bình thường; vì vậy cần giao con chung cho chị L nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về án phí : Chị L phải chịu án phí hôn nhân theo quy định.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa như nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51; 56; 57; 81; 82; 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dương Thị Thuý L được ly hôn anh Thạch L.
- Về con chung: Giao con tên Thạch Ngân T, sinh ngày 23/02/2006 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu giải quyết nên không xét.
-Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Về án phí: Chị Dương Thị Thuý L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0015657 ngày 10/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang. Chị L đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Thạch Linh có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Cầu Ngang; - Chi cục THADS huyện Cầu Ngang; - Các đương sự; - UBND xã V, huyện Cầu Ngang; - Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tranh |