vanban.org

Bản án 73/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Bùi Thị X với bị đơn Ah Lê Thanh H.

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị X được ly hôn với anh Lê Thanh H. Về nuôi con chung: Có 02 con chung là Lê Thành L, sinh ngày 15/5/2003 đã trưởng thành, Lê Thành A, sinh ngày 08/6/2008 hiện đAg sống với chị X. Chị X được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Lê Thành A và anh H không phải cấp dưỡng nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Bùi Thị X tranh chấp ly hôn với anh Lê Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Bùi Thị X với bị đơn Ah Lê Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CĐ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25-7- 2023
“V/v TrAh chấp ly hôn
và nuôi con chung ”

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ, TỈNH L A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Út

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trịnh Thị Kim Quyên

2. Bà Phạm Ngọc Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh L A.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện CĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 124/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2023 về việc “tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị X sinh năm 1984;

Địa chỉ: 370 ấp Y, xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh L A.

Tạm trú: đường H, hẻm 25/15/20 phường T, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh, (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Thanh H, sinh năm 1980;

Địa chỉ: 370 ấp 3, xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh L A, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22/3/2023 và bản tự khai ngày 13/6/2023 của nguyên đơn chị Bùi Thị X trình bày: Chị X và anh Lê Thanh H cưới nhau vào năm 2005, hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 31/10/2005 tại Uỷ ban nhân xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh L A. Sau khi cưới, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2013 phát sinh mâu thuẩn vợ chồng do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, chị X nhiều lần khuyên anh H nhưng anh H không sửa đổi, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên đã sống ly thân từ ngày 13/10/2021 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị X yêu cầu ly hôn với Ah H.

Về nuôi con chung: Có 02 con chung là Lê Thành L, sinh ngày 15/5/2003, Lê Thành A, sinh ngày 08/6/2008 hiện đang sống với chị X. Khi ly hôn chị X yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi con là Lê Thành A và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con, còn Lê Thành L đã trưởng thành nên việc sống với cha hay mẹ là do L tự quyết định.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Do bận công việc nên chị X có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn anh Lê Thanh H, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng anh H không nộp văn bản nêu ý kiến cũng như không đến Tòa án tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Bùi Thị X có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng Ah H không đến tham gia phiên tòa. Căn cứ Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt chị X và anh H.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Chị Bùi Thị X khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Thanh H là quan hệ tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh L A.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị X và anh Lê Thanh H cưới nhau vào năm 2005, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 31/10/2005 tại Uỷ ban nhân xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh L A nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo trình bày của chị X nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn vợ chồng là do anh H có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, cuộc sống không còn hạnh phúc nên đã sống ly thân từ ngày 13/10/2021 cho đến nay. Chị X nhận thấy không còn tình cảm với anh H nên yêu cầu được ly hôn với anh H. Đối với anh H, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H vẫn không nộp cho Tòa án bất cứ văn bản nào trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị X và anh H cũng không đến Tòa án để giải quyết cho thấy anh H không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị X. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị X và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cần xử chấp nhận cho chị X được ly hôn với chị anh H.

Về nuôi con chung: Chị X và anh H có 02 con chung là Lê Thành L, sinh ngày 15/5/2003 đã trưởng thành, Lê Thành A, sinh ngày 08/6/2008 hiện đang sống với chị X. Khi ly hôn chị X yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi con là Lê Thành A và cháu A có đơn nguyện vọng sống với mẹ nên việc chị X yêu cầu nuôi cháu A là có căn cứ chấp nhận. Đối với cháu Lê Thành L đã trưởng thành nên việc sống với cha hay mẹ do cháu L tự quyết định, chị X không có yêu cầu nên Tòa án không đề cặp.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị X trình bày giữa chị X và anh H không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Về quyền, thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 266, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83,84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Bùi Thị X với bị đơn Ah Lê Thanh H.

1. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị X được ly hôn với anh Lê Thanh H.

2. Về nuôi con chung: Có 02 con chung là Lê Thành L, sinh ngày 15/5/2003 đã trưởng thành, Lê Thành A, sinh ngày 08/6/2008 hiện đAg sống với chị X. Chị X được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Lê Thành A và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị X không yêu cầu. Đối với Lê Thành L đã trưởng thành nên việc sống với cha hay mẹ do cháu L tự quyết định.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: Chị Bùi Thị X phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0005162 ngày 22/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CĐ, chị X đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quỳên thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ