vanban.org

Bản án 73/2022/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 ngày 29/12/2006.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Điểm b Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng NNPTNT Việt Nam và Nguyễn Văn K"
  • Tòa quyết gì? Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 ngày 29/12/2006.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 11/2012/NĐ-CP Về sửa đổi, bổ sung một số điều c…; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP Về giao dịch bảo đảm; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2022/KDTM-ST
Ngày: 29/4/2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Trung Trực.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị An

2. Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện ĐA.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tám - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện ĐA xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 175/2020/TLST-KDTM ngày 25 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2022/QĐXXST-KDTM ngày 25 tháng 3 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2022/QĐ-HPT ngày 13/4/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank). Địa chỉ: Số 2 phố Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: ông Tiết Văn Thành, chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Trịnh Xuân Long, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – C nhánh ĐA. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: ông Lê Quang T, chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch LH – C nhánh ĐA.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Nguyễn Đắc K, sinh năm 1976

2.2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980

Đều có địa chỉ: thôn TB, xã VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

3. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Anh Nguyễn Đắc L, sinh năm 2001

3.2. Cháu Nguyễn Thị Kim C, sinh năm: 2004

3.3. Cháu Nguyễn Đắc L1, sinh năm: 2007

Đều có địa chỉ: thôn TB, xã VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

4. Ngƣời đại diện hợp pháp cho cháu Nguyễn Thị Kim C và cháu Nguyễn Đắc L1: ông Nguyễn Đắc K, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980. Đều có địa chỉ: thôn TB, xã VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa có mặt: ông T

Tại phiên tòa vắng mặt: bà H, ông K, anh L

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/11/2020, những lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Nguyên đơn là ông Lê Ngọc Hải trình bày:

Ngày 07/12/2018, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – C nhánh ĐA (gọi tắt là “Agribank C nhánh ĐA”) và bà Nguyễn Thị H (ông Nguyễn Đăng K ủy quyền cho bà H thực hiện các giao dịch tại Agribank C nhánh ĐA) ký Hợp đồng tín dụng 3140-LAV-201806897 với nội dung sau: Hạn mức cho vay

5.500.000.000 đồng (Năm tỷ năm trăm triệu đồng) Thời hạn của hạn

12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng mức tín dụng Mục đích vay vốn

Kinh doanh gỗ

Lãi suất tiền vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng:

9%/năm. Lãi suất cho vay có điều chỉnh tối thiểu 3

tháng/lần không vượt quá quy định lãi suất cho vay của

Agribank, phù hợp với quy định lãi suất cho vay của Lãi suất trong hạn

Agribank C nhánh ĐA từng thời kỳ, được thỏa thuận và kỳ điều chỉnh

trong hợp đồng tín dụng. Hai bên thống nhất trong thời

gian vay vốn, việc điều chỉnh lãi suất không cần hai bên

ký phụ lục hợp đồng, bên A (ngân hàng) sẽ chủ động thực

hiện và thông báo cho bên B (bên vay) bằng văn bản. Lãi suất quá hạn

Bằng 150% mức lãi suất trong hạn

1/ Toàn bộ quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 7,

tờ bản đồ số 58, diện tích 90 m2 và tài sản trên đất tại địa

chỉ thôn KT, xã HM, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh theo Giấy Tài sản bảo đảm

chứng nhận quyền sử dụng đất , quyền sở hữu nhà ở và tài

sản khác gắn liền với đất số CĐ 239600 do Sở tài nguyên

và môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 23/09/2016 mang

tên bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Đắc K.

2/ Toàn bộ quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 76,

tờ bản đồ số 4, diện tích 120m2 tại địa chỉ thôn TB, xã

VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất số AN454535 do Ủy ban nhân dân

huyện ĐA cấp ngày 28/07/2009 mang tên bà Nguyễn Thị

H và ông Nguyễn Đắc K.

Quá tr nh thực hiện Hợp đồng: Agribank C nhánh ĐA – phòng giao dịch LH đã giải ngân 05 lần cho bà Nguyễn Thị H, cụ thể:

Lần 1: Ngày 01/03/2019 giải ngân 1,050,000,000 đồng; ngày đến hạn là 20/8/2020; đã trả tiền nợ gốc: 60.000.000 đồng, còn nợ gốc là 990.000.000 đồng.

Lần 2: Ngày 06/03/2019 giải ngân 1.200.000.000 đồng; ngày đến hạn là 20/8/2020; chưa trả tiền nợ gốc.

Lần 3: Ngày 08/03/2019 giải ngân 1.400.000.000 đồng; ngày đến hạn là 20/8/2020; chưa trả tiền nợ gốc.

Lần 4: Ngày 20/06/2019 giải ngân 100.000.000 đồng; ngày đến hạn là 21/10/2020; chưa trả tiền nợ gốc.

Lần 5: Ngày 21/06/2019 giải ngân 845.000.000 đồng; ngày đến hạn là 20/08/2020; chưa trả tiền nợ gốc.

Ngày 22/07/2019 Agribank C nhánh ĐA và bà Nguyễn Thị H đã ký Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-201806897 về việc gia hạn trả nợ gốc, lãi cho bà Nguyễn Thị H. Quá trình thực hiện hợp đồng bà H đã trả cho phía Ngân hàng tiền nợ lãi nhiều lần, tổng cộng bà H đã trả cho phía Ngân hàng được 133.246.849 đồng. Ngày 20/8/2020, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi cho phía Ngân hàng.

Tính đến ngày 29/04/2022, tổng dư nợ gốc và lãi của bà Nguyễn Thị H còn nợ Agribank C nhánh ĐA là 7.306.439.179 (bảy tỷ ba trăm L sáu triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn một trăm bẩy mươi chín) đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc là 5.435.000.000 đồng; số tiền nợ lãi là 1.871.439.179 đồng (số tiền lãi trong hạn: 538.034.795 đồng; số tiền lãi quá hạn: 1.242.306.986 đồng; lãi chậm trả lãi: 91.097.398 đồng).

Agribank C nhánh ĐA đã nhiều lần gửi thông báo yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ cũng như cử đại diện làm việc với bà Nguyễn Thị H, tuy nhiên bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K vẫn không trả số tiền nợ gốc và nợ lãi cho ngân hàng. Do vậy, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Ngân hàng.

Nay Agribank khởi kiện bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K đề nghị Tòa án gi i quy t các v n đề cụ thể sau:

- Buộc bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền tính đến 29/04/2022 tại Agribank C nhánh ĐA là 7.306.439.179 (bảy tỷ ba trăm L sáu triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn một trăm bẩy mươi chín) đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc là 5.435.000.000 đồng; số tiền lãi là 1.871.439.179 đồng (số tiền lãi trong hạn: 538.034.795 đồng; số tiền lãi quá hạn: 1.242.306.986 đồng; lãi chậm trả lãi: 91.097.398 đồng).

- Buộc bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K phải trả các khoản tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 30/4/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

- Trong trường hợp bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi, phí phát sinh thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm là: thửa đất số 07, tờ bản đồ số 58, diện tích 90 m2 mang tên ông Nguyễn Đắc K, bà Nguyễn Thị H tại thôn KT, xã HM, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh (nay là KT, phường HM, thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh), Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 1824/2016 ký ngày 05/10/2016 tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh Bắc Ninh; thửa đất số 76, tờ bản đồ số 4, diện tích 120 m2 mang tên ông Nguyễn Đắc K, bà Nguyễn Thị H tại thôn TB, xã VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số công chứng 120/2014/HĐTC, Quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 15/01/2014 tại Văn phòng công chứng Trung Tâm để trả nợ Ngân hàng.

- Trong trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm trên không đủ thanh toán hết khoản nợ gốc và lãi, phí phát sinh thì bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K vẫn phải có nghĩa vụ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày: Theo bản tự khai ngày 24/3/2021, bà H nhất trí là vợ chồng ông, bà có vay của Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền 5.435.000.000 đồng và có nợ tiền lãi phát sinh của số tiền này nhưng do làm ăn thua lỗ, kinh doanh không hiệu quả nên vợ chồng ông K, bà H chưa có tiền trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng. Bà H đề nghị phía Ngân hàng cho vợ chồng bà một thời gian để thu xếp bán tài sản trả nợ.

Đối với Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đắc K, anh Nguyễn Đắc L: Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, nhiều lần triệu tập đến Tòa án để viết bản tự khai, tham gia tố tụng và tranh tụng nhưng ông Nguyễn Đắc K, anh Nguyễn Đắc L đều không có mặt, không có lời khai, không tham gia các giai đoạn tố tụng của vụ án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Tòa án không lấy được ý kiến của ông Nguyễn Đắc K, anh Nguyễn Đắc L.

Tại phiên tòa, Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như nêu trên và đưa ra yêu cầu số tiền đến ngày xét xử đề nghị Bị đơn phải trả. Bị đơn, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp luật của những người tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền tính đến ngày 29/04/2022 là 7.306.439.179 (bảy tỷ ba trăm L sáu triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn một trăm bẩy mươi chín) đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc là 5.435.000.000 đồng; số tiền lãi là 1.871.439.179 đồng (số tiền lãi trong hạn: 538.034.795 đồng; số tiền lãi quá hạn: 1.242.306.986 đồng; lãi chậm trả lãi: 91.097.398 đồng) và tiếp tục phải trả tiền nợ lãi phát sinh trên dư nợ gốc kể từ ngày 30/4/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp Bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ theo yêu cầu của Nguyên đơn thì Nguyên đơn đề nghị Tòa án cho xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ; căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa; căn cứ việc tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K thanh toán số tiền nợ và xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản nên được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn cư trú tại huyện ĐA, thành phố Hà Nội, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh, do vậy Tòa án nhân dân huyện ĐA, thành phố Hà Nội có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án kinh doanh thương mại theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và ý kiến của chính quyền xác nhận hiện nay trên nhà đất bà H, ông K đang quản lý, sử dụng gồm có 05 người là: bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K, anh Nguyễn Đắc L, cháu Nguyễn Thị Kim C, cháu Nguyễn Đắc L1 sinh sống, ngoài ra không còn ai khác. Vì vậy, Tòa án đưa anh Nguyễn Đắc L, cháu Nguyễn Thị Kim C, cháu Nguyễn Đắc L1 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho cháu C, cháu L1 là: bà Nguyễn Thị H; ông Nguyễn Đắc K. Tại các phiên tòa, Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà H, ông K, anh L theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và dành quyền kháng cáo cho họ là phù hợp pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về hợp đồng tín dụng: Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, yêu cầu Bị đơn phải trả Nguyên đơn tổng số tiền là 7.306.439.179 (bảy tỷ ba trăm L sau triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn một trăm bẩy mươi chín) đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc là 5.435.000.000 đồng; số tiền lãi là 1.871.439.179 đồng (số tiền lãi trong hạn: 538.034.795 đồng; số tiền lãi quá hạn: 1.242.306.986 đồng; lãi chậm trả lãi: 91.097.398 đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc kể từ ngày 30/4/2022 cho đến khi Bị đơn thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng, xét thấy:

Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-201806897 ngày 07/12/2018 giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – C nhánh ĐA và bà Nguyễn Thị H (ông Nguyễn Đắc K đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H theo giấy ủy quyền ngày 26/10/2017) có nội dung: Hạn mức cho vay: 5.500.000.000 đồng (Năm tỷ năm trăm triệu đồng), mục đích sử dụng tiền vay: kinh doanh gỗ; Lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng: 9%/năm, phương thức áp dụng lãi suất: Lãi suất cho vay có điều chỉnh tối thiểu 3 tháng/lần không vượt quá không quy định lãi suất cho vay của Agribank, phù hợp với quy định lãi suất cho vay của Agribank C nhánh ĐA từng thời kỳ, được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Hai bên thống nhất trong thời gian vay vốn, việc điều chỉnh lãi suất không cần hai bên ký phụ lục hợp đồng, bên A (ngân hàng) sẽ chủ động thực hiện và thông báo cho bên B (bên vay) bằng văn bản.

Ngày 22/07/2019 Agribank C nhánh ĐA và bà Nguyễn Thị H ký Văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-201806897 về việc gia hạn trả nợ gốc, lãi cho bà Nguyễn Thị H.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng Nguyên đơn đã nhiều lần giải ngân cho bà Nguyễn Thị H. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng. Do vậy, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng như trên là phù hợp với Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2017 nên được chấp nhận.

Về hợp đồng thế chấp: Xét yêu cầu của Nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp Bị đơn không trả nợ đúng hạn, xét thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 05/10/2016 giữa bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K và Ngân hàng Agribank C nhánh ĐA có số công chứng: 1824/2016 tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh Bắc Ninh; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liều với đất ngày 15/01/2014 giữa bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K và Ngân hàng Agribank C nhánh ĐA có số công chứng: 120/2014/HĐTC tại Văn phòng công chứng Trung Tâm, đã được đăng ký giao dịch đảm bảo tại Cơ quan nhà nươc có thẩm quyền. Tài sản thế chấp bao gồm:

1/Toàn bộ quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 7, tờ bản đồ số 58, diện tích 90 m2 tại địa chỉ thôn KT, xã HM, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh (nay là KT, phường HM, thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 239600 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 23/09/2016 mang tên bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Đắc K, cùng tài sản gắn liền với đất (mục 8.3 Điều 8 của Hợp đồng).

2/ Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 76, tờ bản đồ số 4, diện tích 120 m2 tại thôn TB, xã VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN454535 do Ủy ban nhân dân huyện ĐA cấp ngày 28/07/2009 mang tên bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Đắc K. Bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K đã tự nguyện đem tài sản nói trên thế chấp cho Ngân hàng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K đối với các khoản nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn các khoản phí và C phí khác phát sinh nếu có.

Bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K khi ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, hợp đồng thế chấp phù hợp pháp luật về cả hình thức và nội dung. Vì vậy, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Nguyên đơn phù hợp pháp luật, được chấp nhận.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí, Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 466, 468, 470, 317, 318, 323 và 299 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Các Điều 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 ngày 29/12/2006.

- Điều 6, 7, 9, 9A, 30 của Luật Thi hành án dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

- Điểm b Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-201806897 ngày 07/12/2018 đối với bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K.

- Buộc bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền tính đến ngày 29/04/2022 là 7.306.439.179 (bảy tỷ ba trăm L sáu triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn một trăm bẩy mươi chín) đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc là 5.435.000.000 đồng; số tiền lãi là 1.871.439.179 đồng (số tiền lãi trong hạn: 538.034.795 đồng; số tiền lãi quá hạn: 1.242.306.986 đồng; lãi chậm trả lãi: 91.097.398 đồng).

- Kể từ ngày 30/4/2022, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K còn phải tiếp tục trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam khoản tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc chưa trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 3140-LAV-201806897 ngày 07/12/2018.

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K không trả đủ các khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ gồm:

+ Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đối với thửa đất số 7, tờ bản đồ số 58, diện tích 90 m2 tại địa chỉ thôn KT, xã HM, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh (nay là KT, phường HM, thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 239600 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 23/09/2016 mang tên bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Đắc K.

Nghĩa vụ được bảo đảm của nhà, đất nêu trên là bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ bao gồm: nợ gốc, nợ lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và C phí phát sinh khác liên quan (nếu có). Trong đó số tiền gốc là 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng.

+ Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đối với thửa đất số 76, tờ bản đồ số 4, diện tích 120 m2 tại thôn TB, xã VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN454535 do Ủy ban nhân dân huyện ĐA cấp ngày 28/07/2009 mang tên bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Đắc K để thu hồi nợ.

Nghĩa vụ được bảo đảm của nhà, đất nêu trên là bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ bao gồm: nợ gốc, nợ lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và C phí phát sinh khác liên quan (nếu có). Trong đó số tiền gốc là 3.000.000.000 (ba tỷ) đồng.

- Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả số nợ còn lại cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Đắc K phải chịu toàn bộ tiền án phí là 115.306.000 (một trăm mười năm triệu ba trăm L sau nghìn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Trả lại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 57.005.000 đồng (Năm mươi bảy triệu không trăm L năm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0008542 ngày 23/11/2020 của C cục Thi hành án dân sự huyện ĐA.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 9A Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và Người đại diện hợp pháp cho Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ