vanban.org

Bản án 73/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 14/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Y L phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Về Hì nh phạ t: Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Y L – 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 17/2022/HS-ST Tuyên án 17/06/2022
Phúc thẩm — đang xem Bản án 73/2022/HSPT Tuyên án 14/09/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y L - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Y L phạm tội “Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 243 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2022/HS-PT
Ngày: 14/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Các Thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùng và ông Lê Ngọc Minh;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Văn Tám – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 58/2022/TLPT-HS ngày 09 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Y L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2022/HS-ST ngày 17/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện TH, tỉnh Phú Yên.

Bị cáo có kháng cáo: Y L - sinh ngày 06/6/1990; Nơi cư trú: thôn L, xã S, huyện TH, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Chăm Hroi; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y Li ( đã chết) và bà Hờ Thịnh, sinh năm 1970; Vợ: H V, sinh năm: 1989 và có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Y L: ông Nguyễn Ninh – Luật sư do Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Yên cử. Có mặt.

Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo H V nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 5/2021, vợ chồng Y Lvà H V bàn bạc thống nhất sử dụng 02 cây rựa, 01 máy cưa cầm tay để chặt, phá cây rừng làm rẫy trồng cây hoa màu (mì, đậu đỏ…) tại khu vực rừng tự nhiên ở dốc Bà Úi thuộc thôn L, xã S, huyện TH. Đến đầu tháng 6/2021, Y Lvà H V đã chặt phá cây rừng và trồng cây mì, đậu đỏ với diện tích là 8.700 m2 (trong đó: diện tích rừng do UBND xã S quản lý là 7.990 m2, diện tích rừng do Ban quản lý rừng phòng hộ Tây Hòa quản lý là 710 m2).

Ngày 08/6/2021, Hạt kiểm lâm huyện TH, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện TH, UBND xã Stiến hành kiểm tra rừng tại khu vực dốc Bà Úi phát hiện diện tích rừng bị phá là 15.310 m2, (trong đó: diện tích do UBND xã S quản lý là 14.600 m2, diện tích do Ban quản lý rừng phòng hộ Tây Hòa quản lý là 710 m2.

Ngày 05/8/2021 Hạt kiểm lâm huyện TH tiến hành khởi tố vụ án.

Do sợ bị phát hiện nên vợ chồng Y Lvà H V không đến khu vực rừng bị phá nói trên.

Ngày 14/01/2022, khi vợ chồng Y Lvà H V thuê những người thân trong gia đình đi làm đổi công là vợ chồng Y Văn - Sô Thị Táp, vợ chồng Hà Văn Tiến – Hờ Vương, Y Vũ, Y Vi, Y Viên đến diện tích rừng bị phá nói trên dọn dẹp cây tái sinh để trồng cây sắn mì, thì bị UBND xã S T Đ, UBND xã S , Ban quản lý rừng phòng hộ huyện TH tuần tra phát hiện, lập biên bản. Qua làm việc ngày 24/02/2022, Y L, H V chỉ thừa nhận đã thực hiện hành vi Hủy hoại rừng tại khu vực dốc Bà Úi, khoảnh 7, tiểu khu 356 thuộc thôn L, xã S, huyện TH với diện tích là 8.700 m2 từ tháng 5/2021 cho đến khi bị phát hiện.

Kết luận giám định tư pháp số 681/KLGĐ-CCKL ngày 05/7/2021 và Công văn số 266/CCKL-TGĐ ngày 17/3/2022 của Chi cục Kiểm lâm Phú Yên xác định diện tích rừng bị vợ chồng Y Lvà H V hủy hoại trái pháp luật là 8.700 m2 (0,87 ha); loại rừng: Rừng tự nhiên, rừng nghèo; Chức năng quy hoạch: Rừng sản xuất, cụ thể như sau: Khối lượng lâm sản thiệt hại trên diện tích vi phạm: 30,659 m3/0,87 ha. Trong đó: Diện tích do UBND xã Squản lý bị phá trái pháp luật là 0,799 ha (7.990 m2): Khối lượng lâm sản thiệt hại trên diện tích vi phạm: 29,603 m3/0,799 ha; Diện tích do Ban quản lý rừng phòng hộ Tây Hòa quản lý bị phá trái pháp luật: 0,071 ha (710 m2): Khối lượng lâm sản thiệt hại trên diện tích vi phạm: 1,056 m3/0,071 ha.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 28/7/2021 và số 07/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện TH kết luận: Khối lượng lâm sản thiệt hại và thiệt hại về môi trường do Ban quản lý rừng phòng hộ Tây Hòa quản lý là 11.130.360 đồng, trong đó: thiệt hại về lâm sản là 2.782.590 đồng, thiệt hại về môi trường là 8.347.770 đồng; Khối lượng lâm sản thiệt hại và thiệt hại về môi trường do UBND xã Squản lý là 259.450.720 đồng, trong đó: thiệt hại về lâm sản là 64.862.680 đồng, thiệt hại về môi trường là 194.588.040 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2022/HS-ST ngày 17/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện TH, tỉnh Phú Yên đã tuyên Y L phạm tội “Hủy hoại rừng”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; phạt: Y L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần dân sự; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/6/2022, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo vẫ n khai nhậ n toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i như nộ i dung bả n á n sơ đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 BLTTHS; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo là người dân tộc thiểu số; bị cáo là người mù chữ; Trình độ nhận thức hiểu biết pháp luật thấp; Hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã nộp khắc phục 2.000.000đ tại cấp phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Lời khai nhận tội của bị cáo Y L tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng đầu tháng 5/2021 đến tháng 02/2021, tại khu vực dốc Bà Úi, khoảnh 7, tiểu khu 356 thuộc thôn L, xã S, huyện TH, tỉnh Phú Yên ; Y L có hành vi phát rừng, đốt rừng với mục đích trồng keo và trồng cây hoa màu trên diện tích là 8.700 m2 (0,87 ha) đất rừng hiện đang do UBND xã S và Bản quản lý rừng phòng hộ huyện TH quản lý. Khối lượng lâm sản thiệt hại và thiệt hại về môi trường do Ban quản lý rừng phòng hộ Tây Hòa quản lý là 11.130.360 đồng (trong đó: thiệt hại về lâm sản là 2.782.590 đồng, thiệt hại về môi trường là 8.347.770 đồng); Khối lượng lâm sản thiệt hại và thiệt hại về môi trường do UBND xã S quản lý là 259.450.720 đồng (trong đó: thiệt hại về lâm sản là 64.862.680 đồng, thiệt hại về môi trường là 194.588.040 đồng) nên cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử bị cáo Y L về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến môi trường sinh thái, nguồn tài nguyên quý giá của đất nước, được Nhà nước bảo vệ nên cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; Áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để xử phạt bị cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tài liệu chứng minh đã nộp khắc phục số tiền 2.000.000đ (tại biên lai thu tiền số 0001085 ngày 14/9/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên). Đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo – Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Y L phạm tội “Hủy hoại rừng”.

1. Về Hì nh phạ t: Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Y L – 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

2. Về á n phí: Bị cáo Y L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ