vanban.org

Bản án 73/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 22/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/7/2022. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2022/HS-ST
Ngày: 22-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Quách Thành Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đang

2. Bà Đinh Thu Hương

- Thư ký Tòa án: bà Lê Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Hồng Chiên– Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh ngày 09/10/1976, tại huyện LS, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: thôn BA, xã LV, huyện NQ, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 03/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Văn Kh và bà Mai Thị T; có vợ và 04 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: (1) bị xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo bản án hình sơ thẩm số 162/2003/HSST ngày 09/10/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, chấp hành xong bản án ngày 18/12/2005 (đã được xóa án tích); (2) bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 2189/QĐ-UBND, ngày 28/12/2007 của UBND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, chấp hành xong ngày 17/7/2010; (3) bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 769/QĐ-UBND ngày 03/5/2012 của UBND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, chấp hành xong ngày 04/5/2014; (4) bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 10/QĐ-CT ngày 15/6/2014 của UBND xã Lạc Vân, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, chấp hành xong ngày 15/12/2014; (5) bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 14/QĐ-XPHC, ngày 20/12/2014 của Công an xã Lạc Vân, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; (6) bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 04/2015/QĐ-TA, ngày 15/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, chấp hành xong ngày 26/7/2016; (7) bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 04/QĐ-CT ngày 07/01/2018 của Chủ tịch UBND xã Lạc Vân, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, chấp hành xong ngày 07/4/2018; (8) bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPVPHC ngày 10/4/2018 của Công an xã Lạc Vân, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; (9) bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng theo Quyết định số 09/2018/QĐ-TA, ngày 14/05/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, chấp hành xong ngày 18/5/2020 (các lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử phạt hành chính đều đã đủ điều kiện được coi như chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, bị xử phạt hành chính); bị tạm giữ từ ngày 14/7/2022 đến ngày 20/7/2022 chuyển tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đến nay (có mặt).

- Người làm chứng: bà Dương Thị T (vắng mặt)

- Người chứng kiến: anh Trần Hằng H (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 50 phút ngày 14/7/2022, tổ công tác của Công an phường Bắc Sơn tiến hành tuần tra bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn. Khi đến đường Trần Phú, thuộc tổ 10B, phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, phát hiện Nguyễn Văn L đang đi trên vỉa hè có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì L đã tự giác lấy vỏ bao thuốc lá có chứa gói ma túy giao nộp. Kiểm tra bao thuốc lá L giao nộp, tổ công tác phát hiện bên trong có một gói giấy bạc màu vàng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng Nguyễn Văn L khai là ma túy, loại Heroine vừa mua được của một người đàn ông không quen biết tại khu vực công viên thành phố Tam Điệp với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ, tổ công tác đã niêm phong chất bột dạng cục màu trắng Nguyễn Văn L khai là ma túy và đưa L về trụ sở Công an phường Bắc Sơn tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng và bắt người phạm tội quả tang, rồi chuyển cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã lấy chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn L ký hiệu M gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 568/KLGĐ-PC09-MT ngày 20/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2577 gam, là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản Cáo trạng số: 70/CT – VKS ngày 07 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 21 đến 24 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy: số ma túy được hoàn lại sau giám định, vỏ bao gói niêm phong, vỏ giấy bạc, vỏ bao thuốc lá đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận khoảng 18 giờ 50 phút ngày 14/7/2022, tại vỉa hè đường Trần Phú thuộc tổ 10B, phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, trong lúc bị cáo đang cất giữ trong người 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,2577 gam để sử dụng thì bị bắt giữ. Bị cáo thừa nhận bị truy tố là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Người làm chứng, người chứng kiến trong quá trình điều tra đều khai báo khoảng 18 giờ 50 phút ngày 14/7/2022, tại vỉa hè đường Trần Phú thuộc tổ 10B, phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã được chứng kiến công an kiểm tra, phát hiện bị cáo Nguyễn Văn L đang cất giữ ma túy trong người để sử dụng cho bản thân với diễn biến sự việc như bị cáo khai báo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: khoảng 18 giờ 50 phút ngày 14/7/2022, tại khu vực đường Trần Phú, phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Nguyễn Văn L có hành vi cất giữ trái phép 0,2577 gam ma túy loại Heroine để sử dụng.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi mang chất ma túy trong người để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép, do cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

Khối lượng ma túy Heroine bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo Nguyễn Văn L được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân rất xấu, đã 01 lần vi phạm pháp luật bị kết án đã được xóa án tích và nhiều lần vi phạm pháp luật hành chính bị xử lý, xử phạt hành chính đến nay đã đủ điều kiện được coi như chưa bị xử lý, xử phạt hành chính.

Xét tính chất hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép và nhân thân của bị cáo thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đề nghị xử phạt bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội, đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với các vật chứng gồm số ma túy được hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, các vỏ bao gói niêm phong, vỏ giấy bạc, vỏ bao thuốc lá là vật không còn giá trị nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Văn L khai nhận mua được của một người đàn ông không quen biết ở khu vực công viên thành phố Tam Điệp. Do L không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông đã bán ma túy cho L nên Cơ quan Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Văn L bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/7/2022.

3. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 một phong bì niêm phong ghi số 568/KL-KTHS-MT bên trong là 0,2074 gam, là ma tuý, loại Heroine sau khi đã trích mẫu giám định; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong;

+ 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng lưu kho, bên trong là 01 mảnh giấy bạc màu vàng có kích thước (5,2x5,2)cm;

+ 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn màu bạc.

(Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 10/10/2022 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp).

4. Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ