- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Anh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2022/HS-ST Ngày 28 - 7 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Huyến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Tùng;
Ông Hoàng Kim Đào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Khắc Quân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Lê Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2022/TLST-HS ngày 22/6/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 70/2022/QĐXXST-HS ngày 14/7/2022, đối với bị cáo:
Bùi Anh T; giới tính: Nam; sinh ngày 10/11/1981 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Khu phố B, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Xuân A (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1946; gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ tư; có vợ là: Hoàng Thị T (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2008.
Tiền sự: 0.
Tiền án: 01, cụ thể: Bản án số 31/2019/HSST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã xử phạt Bùi Anh T 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị từ ngày 13/3/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 11/3/2022, Bùi Anh T đi đến khu vực phía trước khách sạn Hữu Nghị (thuộc khu phố 2, Phường 1, thành phố Đông Hà) tìm gặp nam thanh niên tên Cu Em (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 06 viên ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi có ma túy, T cất giấu tại tay phải rồi đi về sử dụng hết 01 viên. Còn 03 viên cất giấu ở túi áo ấm trong phòng ngủ và 02 viên cất giấu phía dưới tượng gỗ đặt ở lối đi xuống bếp để sử dụng. Đến khoảng 10 giờ ngày 13/3/2022, Công an thành phố Đông Hà kiểm tra hành chính, bắt quả tang và thu giữ số ma túy trên.
Vật chứng thu giữ gồm: 05 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có chữ WY và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, kèm sim số 0705.961.228.
Theo Kết luận giám định số 337/KLGĐ-KTHS ngày 18/3/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị đã kết luận: 05 viên nén thu giữ của Bùi Anh T có khối lượng 0,4500 gam, là ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số: 74/CT-VKSĐH ngày 22/6/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố bị cáo Bùi Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Anh T từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 13/3/2022.
Về xử lý vật chứng, đề nghị:
- Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3A 104754 có đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, kèm sim số 0705.961.228, đã qua sử dụng.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo đã vi phạm pháp luật lần thứ hai và đã nhận thấy sai lầm của bản thân, bị cáo mong muốn Hội đồng xét xử có hình phạt phù hợp để bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp các các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 13/3/2022, tại nơi ở của Bùi Anh T (Khu phố B, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị), Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đông Hà đã phát hiện, bắt quả tang Bùi Anh T tàng trữ 05 viên ma túy loại hồng phiến, với mục đích để sử dụng. Căn cứ bản Kết luận giám định số 337/KLGĐ-KTHS ngày 18/3/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị, kết luận: 05 viên nén thu giữ của Bùi Anh T có khối lượng 0,4500 gam, là ma túy loại methamphetamine.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương và tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi cất giấu ma túy với mục đích để sử dụng. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, đồng thời góp phần vào công tác phòng, chống và đẩy lùi tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố Đông Hà.
- Về tình tiết tăng nặng: Bản án số 31/2019/HSST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã xử phạt Bùi Anh T 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra, mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị Thơm là thương binh nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Tiếp tục ra quyết định tạm giam đối với bị cáo trong thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng:
- Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3A 104754 có đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, kèm sim số 0705.961.228, số Imei 1: 868289052521416, số Imei 2: 868289052521408, đã qua sử dụng, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm.
Các vấn đề khác: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của nam thanh niên tên Cu Em đã bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở xử lý.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Bùi Anh T: 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 13/3/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:
- Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3A 104754 có đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.
- Trả lại cho bị cáo Bùi Anh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, kèm sim số 0705.961.228, số Imei 1: 868289052521416, số Imei 2: 868289052521408, đã qua sử dụng, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí hình sự sơ thẩm.
Các Vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/6/2022, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, tuyên xử:
Buộc bị cáo Bùi Anh T phải chịu số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Quảng Trị; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Trị; - VKSND TP Đông Hà; - Công an TP Đông Hà; - Chi cục THADS TP Đông Hà; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HC-TP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Huyến |