- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2022/HS-ST Ngày 18-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HƯNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn M.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn K.
2. Ông Nguyễn Văn K1.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H – Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên: Bà Trịnh Thị O - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 18 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2022/HSST ngày 28 tháng 7 năm 2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2022/QĐXX-HS ngày 04 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Nông Văn Đ, sinh năm 1991.
Nơi sinh, cư trú: Bản C, xã Đ Hồng, huyện T, tỉnh C. Đ là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn T và bà Sầm Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa có. Đ bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vương Thị Thanh N – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên, có mặt.
Người làm chứng:
Ông Chu Văn N, sinh năm 1965, vắng mặt.
Anh Chu Ngọc T, sinh năm 1988, vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1
Nông Văn Đ là người nghiện ma túy, loại Heroin thuê trọ tại phòng trọ số 3 khu nhà trọ của gia đình ông Đỗ Văn Thơi ở thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 09 giờ ngày 09/6/2022, Đ một mình đi xe đạp điện màu đỏ đen của Đ từ phòng trọ qua cầu vượt dân sinh xã Lạc Hồng sang địa phận thôn T, xã T, huyện V mua 200.000đ ma túy của một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) thì được 01 gói nilon màu hồng bên trong có ma túy, loại Heroin. Sau khi mua được ma túy, Đ để gói ma túy vào bên trong ví giả da màu nâu của Đ rồi cất ví vào túi quần phía trước bên phải. Sau đó Đ điều khiển xe đạp điện đi về phòng trọ. Khi Đ vừa đi đến chân cầu vượt dân sinh thuộc địa phận thôn Tuấn Dị, xã T thì bị Công an xã T kiểm tra hành chính. Phát hiện Đ tàng trữ trái phép ma túy trong người nên Công an xã T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ, thu giữ vật chứng gồm: 01 túi nilon bên trong chứa chất kết tinh màu trắng được niêm phong trong phong bì đánh ký hiệu M1; 01 xe đạp điện màu đỏ đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng, 01 ví giả da màu nâu đã qua sử dụng và 01 căn cước công dân mang tên Nông Văn Đ. Sau đó vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.
Kết quả khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Văn Đ tại phòng trọ số 3, khu nhà trọ của ông Đỗ Văn T ở thôn H, xã L, huyện V không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan. Kết quả test nhanh ma túy đối với Đ tại Trung tâm Y tế huyện V xác định: Dương tính với Heroin.
Ngày 09/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên tiến hành giám định chất màu trắng dạng cục và bột bên trong 01 túi nilon màu hồng thu của Nông Văn Đ. Tại Bản thông báo kết luận sơ bộ số 249 ngày 09/6/2022 và Bản kết luận số 249 ngày 12/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định có tổng khối lượng 0,165 gam ma túy, loại Heroin.
Đối với vật chứng của vụ án là 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 2492/MT – PC09 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, 01 xe đạp điện màu đỏ đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng, 01 ví giả da màu nâu đã qua sử dụng và 01 căn cước công dân mang tên Nông Văn Đ hiện Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng bảo quản để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch của người đã bán ma túy cho Đ ngày 09/6/2022 nên tách ra để xác minh xử lý sau.
Nông Văn Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, Đ khai số ma túy bị thu giữ nêu trên là của Đ mua với mục đích để sử dụng.
Bản cáo trạng số 79/CT-VKS, ngày 27/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
2
Tại phiên toà; Bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai sử dụng xe đạp điện để đi lại hằng ngày; còn điện thoại bị cáo liên hệ với đối tượng bán ma túy để mua ma túy, số của đối tượng này bị cáo không nhớ.
Người bào chữa đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, xử bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nông Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nông Văn Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 09/6/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, 01 ví giả da màu nâu đã qua sử dụng.
Tịch thu, phát mại lấy tiền sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng, lắp số thuê bao 0348.646.975.
Trả lại bị cáo Nông Văn Đ 01 xe đạp điện màu đỏ đen, 01 căn cước công dân mang tên Nông Văn Đ.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bản cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử được tống đạt cho bị cáo đúng pháp luật; việc lấy lời khai những người tham gia tố tụng, hỏi cung bị can đều đảm bảo. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Hội đồng xét xử xác định việc điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung; lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và lời khai người làm chứng, với các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 09/6/2022 tại khu vực chân cầu vượt Quốc lộ 5A thuộc địa phận thôn Tuấn Dị, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Nông Văn Đ đã
3
thực hiện hành vi tàng trữ trái phép trong người 0,165 gam ma túy, loại Heroin để sử dụng thì bị Công an xã T, huyện V phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.
Hành vi tàng trữ trên người 0,165 gam heroine để sử dụng như nêu ở trên của Nông Văn Đ đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, trong tình hình tệ nạn ma túy đang gây nhức nhối trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong cộng đồng dân cư. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do không làm chủ bản thân nên đã nghiện ma túy và tàng trữ ma túy để sử dụng. Việc sử dụng ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ và phá vỡ các giá trị đạo Đ tốt đẹp của con người. Tệ nạn ma tuý là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, nguy cơ lây lan các bệnh nguy hiểm cũng xuất phát từ việc sử dụng trái phép ma túy. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng, tiếp tục bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo và phòng ngừa các hành vi tương tự xảy ra.
Xong cũng xét đến quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,… ” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:
01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hưng Yên, bên trong là vật chứng ma túy, 01 ví giả da màu nâu đã qua sử dụng của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu gì, nên tịch thu tiêu huỷ.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng, lắp số thuê bao 0348.646.975 bị cáo khai liên hệ mua ma túy, nên sẽ tịch thu, phát mại, lấy tiền sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe đạp điện màu đỏ đen là phương tiện đi lại hằng ngày của bị cáo, 01 căn cước công dân mang tên Nông Văn Đ là giấy tờ cá nhân của bị cáo, nên sẽ trả lại cho bị cáo.
Đối tượng bán ma túy cho bị cáo, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, sau này có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
4
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nông Văn Đ 01 năm 06 tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 09/6/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, 01 ví giả da màu nâu đã qua sử dụng.
Tịch thu, phát mại lấy tiền sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng, lắp số thuê bao 0348.646.975.
Trả lại bị cáo Nông Văn Đ 01 xe đạp điện màu đỏ đen, 01 căn cước công dân mang tên Nông Văn Đ.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn Đ.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân, Công an huyện V; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. 5 | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Mười |