vanban.org

Bản án 73/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 05/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2022/HS - ST
Ngày: 05/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA - TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Chung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bào

2. Ông Nguyễn Xuân Trường

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Duy- Kiểm sát viên.

Ngày 05/8/2022 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại Tạm giam công an tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2022/TLST-HS ngày 13/7/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2022/QĐXXST-HS ngày 22/7/2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tuấn M, sinh năm 1979;

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Nơi cư trú: Thôn Trung Hòa, Mai Trung, Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Trình độ văn hóa: 2/12

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không

Con ông: Nguyễn Văn Oai (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Hồ, sinh năm 1950; Vợ: Ngô Thị Thanh, sinh năm 1980;

Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005;

Anh, chị em: Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai;

Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân: Ngày 17/7/2019, Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Văn Nam, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: thôn Hương Ninh, xã Hợp Thịnh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

2. Chị Vang Thị Thơm, sinh năm 2000 (vắng mặt)

Địa chỉ: Bản Tắm, xã Châu Phong, xã Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

Nơi ở: Phố Nỉ, Trung Giã, Sóc Sơn, Hà Nội.

3. Chị Ngô Thị Thanh, sinh năm 1980 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Trung Hòa, xã Mai Trung, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 04 giờ 05 phút ngày 22/6/2022, tại quán karaoke Z86 của anh Trần Văn Nam, sinh năm 1990 ở thôn Hương Ninh, xã Hợp Thịnh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hiệp Hòa phối hợp với Công an xã Hợp Thịnh tiến hành kiểm tra phương tiện đối với xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, biển kiểm soát 98A-227.18 của Nguyễn Tuấn M, sinh năm 1979 ở thôn Trung Hòa, xã Mai Trung, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang thì phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Tuấn M đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại vị trí ghế lái phía trước bên trái xe ô tô: 02 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, trong đó: 01 túi nilon chứa 02 viên nén màu vàng (nghi là ma túy) và 01 túi nilon không chứa gì. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong 02 túi nilon trong 01 phong bì ký hiệu “QT” để phục vụ giám định Ngoài ra, Cơ quan điều tra thu giữ của Mùi xe ô tô biển kiểm soát 98A-227.18.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định trưng cầu giám định số 150/QĐ gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Nguyễn Tuấn M.

Tại Kết luận giám định số 1097/KL-KTHS ngày 27/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT”, đã được niêm phong gửi giám định:

- 02 (hai) viên nén màu vàng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng 0,654 gam, loại MDMA.

- 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ không bám dính chất ma túy, tiền chất” (Bút lục 33).

Tại Cơ quan điều tra, Mùi khai nhận: Bản thân Mùi là người nghiện ma túy. Khoảng tháng 6/2022, Mùi đi hát karaoke tại quán Z86 thì quen biết với 01 nữ nhân viên (Mùi không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Sau nhiều lần gặp và quan hệ tình dục với nhau thì Mùi được nữ nhân viên này cho sử dụng ma túy. Sau đó, nữ nhân viên này cho Mùi 02 túi nilon, trong đó có 01 túi có 02 viên ma túy dạng kẹo. Mùi biết đó là ma túy nên đã để ở ghế lái xe ô tô Huyndai Accent biển kiểm soát 98A-227.18 của Mùi để sử dụng dần. Đến khoảng 04 giờ ngày 22/6/2022, Mùi đi xe ô tô đến quán karaoke Z86 thuê phòng Vip 2 để hát karaoke và thuê Vang Thị Thơm, sinh năm 2000 ở bản Tằm, xã Châu Phong, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ an hát cùng. Sau đó, khi Công an xã Hợp Thịnh vào kiểm tra thì Mùi và Thơm bỏ chạy và được đưa vào phòng Vip 3 để làm việc. Sau khi lập biên bản kiểm tra hành chính, Cơ quan công an tiếp tục kiểm tra xe ô tô Huyndai Accent biển kiểm soát 98A-227.18 của Mùi thì phát hiện 02 túi nilon, trong đó có 01 túi có 02 viên ma túy dạng kẹo nên đã lập biên bản bắt quả tang đối với Mùi.

Vang Thị Thơm khai nhận: Thơm là nhân viên phục vụ karaoke, khoảng 04 giờ ngày 22/6/2022 Thơm được anh Nam gọi đến quán hát Z86 để phục vụ khách karaoke ở phòng hát Vip 2 của quán. Khi vào phòng thì chỉ có Mùi ở đó. Hát được khoảng 05 phút thì Mùi bẻ nửa viên ma túy dạng kẹo cho Thơm uống, Mùi tự uống nửa viên ma túy còn lại. Sau đó, Thơm và Mùi ngồi nghe nhạc thì nghe thấy có người bảo là công an đến kiểm tra nên Thơm và Mùi đi ra khỏi phòng Vip 2. Khi Thơm đang đứng ở hành lang thì bị lực lượng Công an bắt quay vào phòng Vip 3 của quán để lập biên bản (Bút lục 91-96). Tuy nhiên Mùi khai, không cho Thơm ma túy và Mùi không sử dụng ma túy tại quán hát Z86.

Cơ quan điều tra đã cho Mùi và Thơm đối chất về nội dung này, tuy nhiên Mùi và Thơm vẫn giữ nguyên lời khai của mình (Bút lục 115-116).

Với nội dung trên Tại bản cáo trạng số 76/CT-VKS-HH ngày 13/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

1, Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2, Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Tuấn M từ 01 năm 04 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/6/2022. Miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.

3,Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong bên trong có chứa chất ma túy.

Trả lại cho chị Ngô Thị Thanh 01 xe ô tô Huyndai Accent biển kiểm soát 98A-227.18 và 01 đăng ký xe ô tô số 046833.

4, Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí HSST.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của người liên quan là chị Thơm và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

. Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Tuấn M có mặt cũng đã hoàn toàn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập, đã có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 04 giờ 05 phút ngày 22/6/2022, tại quán karaoke Z86 ở thôn Hương Ninh, xã Hợp Thịnh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Tuấn M, sinh năm 1979 ở thôn Trung Hòa, xã Mai Trung, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang có hành vi tàng trữ trái phép 0,654 gam ma túy MDMA tại vị trí ghế lái phía trước bên trái xe ô tô Huyndai Accent, biển kiểm soát 98A-227.18 thì bị Công an huyện Hiệp Hòa phối hợp với Công an xã Hợp Thịnh bắt quả tang. Mùi khai tàng trữ số ma túy trên để sử dụng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ cho đời sống cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, là nguy cơ lây truyền các căn bệnh xã hội như HIV, AIDS… Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển… trái phép chất ma tuý. Đảng và Nhà nước ta đang quyết tâm loại trừ tệ nạn này.

Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền lợi chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội. Do đó cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tuy nhiên năm 2019 bị Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Nhưng tại phiên tòa hôm nay bị cáo nại ra rằng số ma túy mà bị cáo được người phụ nữ cho khi đi hát không phải là ma túy, nếu bị cáo biết là ma túy bị cáo sẽ nộp cho cơ quan công an. Tuy nhiên, trong quá trình xét hỏi bị cáo luôn xin HĐXX xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo. Do vậy HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Đối với nữ nhân viên đã cho Mùi ma túy, Mùi không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh.

Đối với anh Trần Văn Nam là chủ quán karaoke Z86, anh Nam không biết việc Mùi tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xử lý.

Đối với Vang Thị Thơm có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 05/7/2022, Công an huyện Hiệp Hòa đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vang Thị Thơm .

. Về vật chứng của vụ án gồm: Đối với 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” đựng vật chứng là chất ma túy đã được niêm phong. Cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe ô tô Huyndai Accent biển kiểm soát 98A-227.18 kèm theo 01 đăng ký xe ô tô là tài sản chung của Mùi và vợ là chị Ngô Thị Thanh, sinh năm 1980 ở thôn Trung Hòa, xã Mai Trung, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Chị Thanh không biết việc Mùi sử dụng chiếc xe để tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, cần trả lại cho chị Ngô Thị Thanh. Tại phiên tòa bị cáo cho rằng ngoài số tài sản trên bị thu giữ, cơ quan công an còn thu giữ của bị cáo số tiền 05 triệu đồng, 01 ví da, 01 giấy phép lái xe, 01 đăng kiểm và 01 căn cước công dân. Tuy nhiên bị cáo không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh có việc thu giữ của cơ quan công an. Mặt khác, tại các biên bản thu giữ tài sản cũng như biên bản phạm tội quả tang bị cáo khai đều được đọc và ký tên. Do vậy, không có căn cứ để xem xét.

. Về hình phạt bổ xung và án phí: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Do vậy cần miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Về hình phạt:

Xử phạt: Nguyễn Tuấn M: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/6/2022. Miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.

Trả lại cho chị Ngô Thị Thanh 01 xe ô tô Huyndai Accent biển kiểm soát 98A-227.18 và 01 đăng ký xe ô tô số 046833.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ