vanban.org

Bản án 73/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 09/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Tuyên bố bị cáo Tống Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt Tống Văn L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 7 năm 2022. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Văn Lực - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Tống Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2022/HS-ST
Ngày: 09 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Nguyễn Đức Phông.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đính - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Lại Minh Khôi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Tống Văn L, sinh năm 1971; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm x, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Xuân H, sinh năm 1946 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1945 (đã chết); gia đình có 07 chị em, bị cáo là thứ ba; có vợ Vũ Thị L, sinh năm 1971 (đã ly hôn) và 04 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự : Không; nhân thân:

- Ngày 27/8/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Ngày 29/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/5/2017.

Bị tạm giữ từ ngày 28/7/2022 đến ngày 03/8/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hải Hậu. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tống Thị H, sinh năm 1970; địa chỉ: Xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Hoàng Trọng D; sinh năm 1992. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn C; sinh năm 1985. Vắng mặt.

3. Anh Ngô Văn T; sinh năm 1996. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 28/7/2022, Tống Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen xám, biển kiểm soát 54L2 - 7298 đi từ nhà đến khu vực cổng chào xã H tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực cổng chào xã H, L gặp 01 người đàn ông không quen biết khoảng 50 tuổi, đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang đang đứng ở lề đường có biểu hiện như người nghiện ma túy, L đến gần hỏi “anh có bán ma túy không?” người đàn ông đó trả lời “mua bao nhiêu đưa tiền đây”, L đưa cho người đàn ông số tiền 200.000 đồng rồi nhận lại 02 gói giấy bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. L cho vào túi quần dài bên trái trước rồi điều khiển xe đi về. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đến khu vực xóm x, xã H, huyện Hải Hậu thì bị tổ công tác của Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần dài bên trái phía trước của L 02 gói giấy bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, L khai nhận đó là Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng (ký hiệu A). Ngoài ra, còn tạm giữ của Tống Văn L một xe mô tô biển kiểm soát 54L2 - 7298. Sau đó, tổ công tác đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu điều tra theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định số 1103/GĐKTHS ngày 29/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu A gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy Heroine. Khối lượng mẫu A là 0,171 gam.

Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKSHH ngày 21/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Tống Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tống Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Tống Văn L từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định, trả cho bà Tống Thị H 01 xe mô tô biển kiểm soát 54L2 – 7298.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận đã phạm tội. Bị cáo xin hứa sửa chữa lỗi lầm và đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định cùng các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 28/7/2022 tại khu vực xóm x, xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, Tống Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,171 gam Heroine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý tàng trữ để sử dụng. Do đó cần phải xử lý theo pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Bản thân bị cáo đã 02 lần bị các Toà án kết án phạt tù về tội Trộm cắp tài sản. Mặc dù bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và đến nay đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, sửa chữa lỗi lầm mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; thái độ ăn năn, hối lỗi. Bị cáo bị mắc bệnh HIV/AID nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo lời khai của bị cáo cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, hiện đang mắc bệnh hiểm nghèo. Do đó, không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với số Heroine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 54L2 - 7298 bị cáo đã dùng vào việc đi mua ma tuý. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản của bà Tống Thị H là chị gái của bị cáo. Bà H không biết bị cáo mượn sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại chiếc xe cho bà H sử dụng là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo vào sáng ngày 28/7/2022 tại khu vực xã H, huyện H, tỉnh Nam Định do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh xử lý.

Về án phí: Bị cáo Tống Văn L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

1.1. Tuyên bố bị cáo Tống Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.2. Xử phạt Tống Văn L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 7 năm 2022.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroine trong 01 phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1103/GĐKTHS ngày 29/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.

Trả cho bà Tống Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đen, biển kiểm soát 54L2 - 7298 đã qua sử dụng.

Vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 27/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo Tống Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ