vanban.org

Bản án 73/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 16/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/6/2022.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 442/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1100 gam là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Ch phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/6/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 73/2022/HS-ST
Ngày 16 tháng 11 năm 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH N

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Hà Xuân Ninh, ông Đinh Duy Quyết.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh, là Thư ký Toà án nhân dân huyện G, tỉnh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh N tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 16/11/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện G, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2022/TLST- HS ngày 07/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2022/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Phạm Văn Ch, tên gọi khác: không, sinh năm 1985 tại xã Đ, huyện Nh, tỉnh N.

Nơi cư trú: thôn S 1, xã Đ, huyện Nh, tỉnh N; nghề nghiệp: làm ruộng; giới tính: nam; trình độ văn hóa: lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Phạm Đức D và bà Vũ Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: tại Bản án số 05/2017/HSST ngày 27/02/2017 của Toà án nhân dân huyện G, xử phạt Phạm Văn Ch 06 tháng tù về tội "trộm cắp tài sản", chấp hành xong bản án ngày 12/5/2017, chưa được xóa án tích; tại Bản án số 25/2018/HSST ngày 05/6/2018 của Toà án nhân dân huyện Th, tỉnh H, xử phạt Phạm Văn Ch 36 tháng tù về tội "mua bán trái phép chất ma túy", chấp hành xong bản án ngày 03/9/2020, chưa được xóa án tích; tiền sự: không; nhân thân: ngày 26/11/2015, Phạm Văn Ch bị Công an phường T, thành phố N xử phạt 750.000 đồng về hành vi “sử dụng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong quyết định ngày 26/11/2015, đã được xóa; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2022, chuyển tạm giam ngày 16/6/2022 tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Phạm Thị H, sinh năm 1987.

Trú tại: thôn S 1, xã Đ, huyện Nh, tỉnh N. Chị H ủy quyền cho bà Vũ Thị H, sinh năm 1954. Bà H có mặt

Người làm chứng: các anh Trần Văn Thuần, Nguyễn Anh Tuấn. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn Ch sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2005 đến nay. Khoảng 13 giờ ngày 08/6/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Ch điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-216.23 đi từ nhà ở thôn S 1, xã Đ, huyện Nh đến khu vực đường ĐT 477 giáp danh giữa xã G, huyện G với xã Đ, huyện Nh để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực trên, Ch nhìn thấy một người đàn ông không quen biết đang ngồi một mình trên xe mô tô (Ch không nhớ hãng xe và biển kiểm soát), nên đến gần và hỏi: “Anh biết chỗ nào mua ma túy không, mua hộ em hai trăm”, đồng thời Ch lấy ra số tiền 200.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người này cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đi, khoảng 10 phút sau quay lại, đưa cho Ch 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đựng chất bột dạng cục màu trắng. Xác định đó là Heroine, Ch bỏ gói ma túy vào túi quần bên phải phía trước rồi điều khiển xe mô tô sang khu vực huyện G để tìm nơi sử dụng ma túy. Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi Ch điều khiển xe mô tô đi đến khu vực trục đường thôn T, xã G, huyện G thì gặp lực lượng Công an làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi vi phạm, Ch tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đựng chất bột dạng cục màu trắng và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine, Ch vừa mua cất giấu để sử dụng. Tổ công tác tiến hành niêm phong gói ma túy có đặc điểm nêu trên của Ch. Ngoài ra, còn thu giữ của Ch 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-216.23. Sau đó, lực lượng Công an đưa Phạm Văn Ch cùng vật chứng thu giữ về trụ sở UBND xã G, huyện G để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Phạm Văn Ch có khối lượng 0,159 gam, lấy mẫu ký hiệu M, để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 442/KL-KTHS-MT ngày 16/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận:

Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1588 gam, là ma túy loại Heroine.

Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1100 gam là ma túy, loại Heroine; Toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong một phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 442/KL-KTHS-MT, cùng thông tin về vụ việc và vật chứng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1- 216.23 cho chị Phạm Thị H.

Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã ra quyết định chuyển 01 phong bì ghi số 442/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1100 gam là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G.

Quá trình điều tra, Phạm Văn Ch đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nêu trên của mình.

Tại Bản cáo trạng số 75/CT-VKS-GV ngày 06/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố Phạm Văn Ch ra trước Tòa án nhân dân huyện G để xét xử về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về kết luận giám định và Bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện G thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Văn Ch như nội dung Bản cáo trạng. Sau khi luận tội đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch từ 06 (sáu) năm tù đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/6/2022; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 442/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1100 gam là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; bị cáo phải nộp án phí theo luật định.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì. Được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Phân tích các chứng cứ xác định có tội: tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Ch khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo cùng các chứng cứ khác thể hiện rõ: do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 13 giờ ngày 08/6/2022, Ch điều khiểu xe mô tô Biển kiểm soát 35N1- 216.23 đến khu vực đường ĐT 477 giáp danh giữa xã G, huyện G với xã Đ, huyện Nh. Tại đây Ch gặp và mua được từ một người đàn ông không quen biết 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đựng chất bột dạng cục màu trắng với giá là 200.000 đồng. Bị cáo Ch xác định gói vừa mua là ma túy nên bỏ vào túi quần bên phải phía trước rồi điều khiển xe mô tô sang khu vực huyện G nhằm tìm nơi sử dụng ma túy. Hồi 15 giờ cùng ngày, khi Ch điều khiển xe mô tô đi đến khu vực trục đường thôn Th, xã G, huyện G thì gặp lực lượng Công an làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu được hành vi cất giấu trái phép chất ma túy của mình, Ch tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng và Ch khai nhận đó là ma túy vừa mua về để sử dụng. Như vậy, rõ ràng bị cáo Ch là người đang có 02 tiền án, trong đó có 01 tiền án xác định là đã tái phạm nhưng lại có hành vi cất giấu trái phép 0,1588 gam, là ma túy, loại Heroine đúng như kết luận giám định, Bản cáo trạng đã mô tả nêu trên nhằm để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với kết luận giám định, với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy’’. Căn cứ tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo và khối lượng Heroine mà bị cáo tàng trữ, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo theo điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249 của BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

…

o) Tái phạm nguy hiểm;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.

. Bản thân bị cáo là người đã thành niên nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, học tập mà sớm sa vào con đường nghiện ngập ma túy dẫn đến phạm tội. Ma tuý là một tệ nạn mà Nhà nước ta đang ra sức loại trừ, vì ma tuý mà nhiều gia đình bị khuynh gia bại sản, vợ chồng ly tán. Ma tuý ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, là hiểm họa gây nên căn bệnh HIV/AIDS, ảnh hưởng đến sự phát triển của giống nòi, đồng thời là nguyên nhân gây nên một loạt các loại tội phạm khác.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Phạm Văn Ch không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bố bị cáo là là bệnh binh hạng C, tỷ lệ mất sức 41%. Đó là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét bị cáo là người có nhân thân xấu nên cần có một hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo bằng việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội đồng thời góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: xét điều kiện hoàn cảnh bản thân của bị cáo Phạm Văn Ch là con nghiện, việc tàng trữ ma túy chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là thỏa đáng.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì ghi số 442/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1100 gam là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-216.23, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Phạm Thị H, (là em gái của Ch). Ngày 08/6/2022, Ch sử dụng xe mô tô đi mua ma túy chị H không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại xe mô tô trên cho chị H là phù hợp.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Phạm Văn Ch ngày 08/6/2022 (theo lời khai của Phạm Văn Ch) ở khu vực đường ĐT 477 giáp danh giữa xã G, huyện G với xã Đ, huyện Nh. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên đây:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47 BLHS; các Điều 106, 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/6/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 442/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1100 gam là ma túy, loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu (đặc điểm chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện G và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G).

3. Về án phí: bị cáo Phạm Văn Ch phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ