- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nhữ Văn D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nhữ Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2022/HS-ST Ngày 20-10-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nhữ Văn Vinh và bà Vũ Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hiếu – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Phƣơng Dung - Kiểm sát viên.
- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
1. Ông Nguyễn Văn Cƣờng - Thẩm phán;
2. Ông Phạm Phạm Sỹ Phƣợng - Kiểm sát viên;
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:
1. Ông Vũ Đức Doanh - Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Giang;
2. Ông Đỗ Danh Huấn - Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Giang;
Ngày 20 tháng 10 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng và điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 74/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 69/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Nhữ Văn D, sinh năm 1997 tại xã TH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng; nơi cƣ trú: thôn SC, xã TH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nhữ Xuân T1 và bà Bùi Thị T2;
Tiền án: không;
Tiền sự: Quyết định số 20/QĐ-TA ngày 29/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Nhữ Văn D trong thời gian 15 tháng kể từ ngày 04/7/2019. Bị cáo chấp hành xong ngày 04/10/2020.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/9/2022 đến ngày 07/9/2022 bị áp dụng biện pháp tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Lƣu Văn T, anh Phạm Trung H. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 19 giờ 15 phút ngày 02/9/2022, tại khu vực cây xăng thuộc thôn SC, xã TH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dƣơng phối hợp với Công an xã TH phát hiện bắt quả tang Nhữ Văn D có hành vi bán trái phép cho đối tƣợng tự khai tên Nguyễn Văn H1, sinh năm 1990, trú tại thôn PA, xã CA, huyện CG, tỉnh Hải Dƣơng. Thu giữ trên tay H1 01 túi nilon màu trắng KT (1 x 1,5)cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, H1 khai là ma túy đá vừa mua của D; thu trên tay D số tiền 200.000 đồng, D khai là tiền H1 vừa trả.
Kết quả điều tra xác định: Trƣớc đó (không xác định đƣợc thời gian), Nhữ Văn D đi đến thị trấn KS, huyện BG gặp mua của ngƣời thanh niên không quan biết 01 túi ma túy đá với giá 180.000 đồng, mục đích để bán lại cho các con nghiện kiếm lời. Sau khi mua đƣợc ma túy, D cất giấu trong ngƣời, đến khoảng 19 giờ 10 phút ngày 02/9/2022, D đi bộ từ nhà ở thôn SC, xã TH, huyện BG đến khu vực cây xăng ở cùng thôn để tìm ngƣời nghiện có nhu cầu mua thì bán. Tại đây, D gặp H1, H1 hỏi D có ma túy bán không, D nói có và đồng ý bán cho H1 túi ma túy đã mua trƣớc đó với giá 200.000 đồng. Ngay sau khi D cầm tiền của H1, H1 cầm túi ma túy của D thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Kết luận giám định số 493/KL-KTHS ngày 03/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) mầu trắng thu của Nguyễn Văn H1, gửi đến giám định khối lƣợng là 0,053g là ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tƣợng giám định gồm: 0,025g Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon mầu trắng và 01 vỏ phong bì. Methamphetamine - STT 323, Danh mục II, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 05-10-2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo Nhữ Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ bản Cáo trạng đã nêu là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm đƣợc trở về đoàn tụ với gia đình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về điều luật áp dụng: áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nhữ Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt chính: xử phạt bị cáo Nhữ Văn D từ 25 đến 28 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/9/2022. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo từ 5 đến 10 triệu đồng sung quỹ nhà nƣớc. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 0,025g ma túy loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon mầu trắng và 01 vỏ phong bì; Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nƣớc số tiền 200.000đ thu giữ của bị cáo Nhữ Văn D. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời chứng kiến, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ 15 phút ngày 02/9/2022, tại khu vực cây xăng thuộc thôn SC, xã TH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng, Nhữ Văn D có hành vi bán trái phép 0,053g ma túy loại Methamphetamine cho đối tƣợng tự khai tên Nguyễn Văn H với giá 200.000 đồng, bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dƣơng phối hợp với Công an xã TH phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nƣớc về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm khác nhƣng vì mục đích kiếm lời, bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ma túy mà bị cáo mua bán là Methamphetamine có khối lƣợng 0,053 gam nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định đƣợc là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.
Đối với đối tƣợng tự khai tên Nguyễn Văn H1 có hành vi mua trái phép chất ma túy của Nhữ Văn D. Quá trình điều tra, H khai về lý lịch sinh năm 1990, trú tại thôn PA, xã CA, huyện CG, tỉnh Hải Dƣơng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dƣơng và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang đã xác minh nhƣng trên địa bàn xã CA, huyện CG không có đối tƣợng nào có nhân thân, lai lịch nhƣ Hƣng đã khai. Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Giang tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,025g ma túy loại Methamphetamine là vật nhà nƣớc cấm lƣu hành; 01 vỏ túi nilon mầu trắng và 01 vỏ phong bì là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với số tiền 200.000đ thu giữ của bị cáo, đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nƣớc.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Nhữ Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nhữ Văn D 25 (hai mƣơi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/9/2022.
3. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) đối với bị cáo Nhữ Văn D, sung quỹ nhà nƣớc.
4. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ: 0,025g ma túy loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon mầu trắng và 01 vỏ phong bì.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nƣớc số tiền 200.000đ thu giữ của bị cáo Nhữ Văn D.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản được lập giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang).
5. Về án phí: Bị cáo Nhữ Văn D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hải Dƣơng; - VKSND huyện Bình Giang; - CQCSĐT - CA huyện Bình Giang; - CQ THAHS huyện Bình Giang; - CCTHADS huyện Bình Giang; - Bị cáo; - Lƣu HS; Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Nam |