- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn N - phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (đ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Hà Văn N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2022/HS-ST ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi về phần hình phạt đối với bị cáo Hà Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 323 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2022/HS-PT Ngày 27-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Năm
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Mỹ Giang
Ông Trần Mười.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tình – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Bình – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 79/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 6 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2022/HS-ST ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị cáo có kháng cáo:
Hà Văn N, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1983, tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số 138 đường NVL, phường TQT, thành phố Q, tỉnh Q; nghề nghiệp: Buôn bán và sửa chữa điện thoại di động; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn H (chết) và bà Phạm Thị N (chết); vợ: Đã ly hôn, có 02 con, lớn sinh năm 2009 và nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn N: Ông Nguyễn Công Tuân - Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Công Tuân thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ: Tổ dân phố Liên Hiệp 1, phường Trương Quang Trọng, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Đức M, sinh năm 1998, trú tại thôn HT, xã TH, huyện ST, tỉnh Q là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, từng có thời gian làm thuê tại địa bàn xã BT, huyện BS, tỉnh Quảng Ngãi nên Lương Đức M biết khá rõ về đường đi ở đây. Hà Văn N, sinh năm 1983, ở phường Trương Quang Trọng, thành phố Quảng Ngãi là Chủ cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại TN, địa chỉ tại số 138 NVL, phường TQT, thành phố Q, tỉnh Q. Lương Đức M có lần đến tiệm điện thoại Thành Nam để sửa điện thoại nên quen biết Nam.
Vào đêm 03/9/2021, Lương Đức M một mình điều khiển xe Dream BKS 76S7 – 5792 của gia đình mình đi từ nhà xuống đường Quốc lộ 1, đi theo hướng Nam Bắc, sau đó rẽ phải theo đường Võ Văn Kiệt đến xã BT, huyện BS, tỉnh Quảng Ngãi để tìm nhà đột nhập trộm cắp tài sản. Lương Đức M điều khiển xe đến ngã tư có đèn tín hiệu giao thông thì rẽ phải (đi hướng về UBND xã BT), đi được một đoạn, tiếp tục rẽ trái theo đường bê tông nhỏ vào Khu dân cư số 02 thuộc thôn ĐL, xã BT, huyện BS, tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây, Lương Đức M dừng xe tại ngã 3 đường, dựng sát tường rào gạch rồi đi bộ rẽ phải tìm kiếm nhà nào sơ hở, thuận lợi sẽ đột nhập. Lúc này, Lương Đức M phát hiện thấy tầng trên nhà của bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1966, thuộc Khu dân cư số 02, thôn ĐL, xã BT, huyện BS, tỉnh Quảng Ngãi không đóng cửa. Lương Đức M tìm kiếm hướng đột nhập thì phát hiện sát vách phía nam ngôi nhà có cây dừa nên đã trèo lên cây rồi đột nhập vào tầng trên. Tại đây, Lương Đức M phát hiện thấy có 04 (bốn) người là các anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1985, trú tại xã TAN, huyện NT, tỉnh QN; Nguyễn Hải Hoàng G, sinh năm 1985, trú tại xã TN, huyện NT, tỉnh QN; Phan Thanh B, sinh năm 1993, trú tại xã TL huyện PN, tỉnh QN; Phạm D, sinh năm 1982, trú tại xã TQ, huyện NT, tỉnh QN – là những người thuê trọ, đang ngủ tại đây nên M lén lút tìm kiếm, lục lọi và phát hiện, lấy trộm 05 (Năm) điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động (viết tắt là ĐTDĐ) Samsung Galaxy J5 màu trắng đục của Nguyễn Hải Hoàng G; 01 ĐTDĐ OPPO F11 màu xanh của Nguyễn Văn P; 01 ĐTDĐ Redmi Note 9S màu xanh của Phan Thanh B; 01 ĐTDĐ Redmi Note 8 màu trắng và 01 ĐTDĐ Redmi Note 10 màu đen của Phạm D. Ngay sau đó, Lương Đức M quay ra, leo cây dừa để xuống đất, rồi ra xe rồi khỏi hiện trường, đi về nhà mình tại xã TH, huyện ST, tỉnh Quảng Ngãi để cất giữ tài sản trộm cắp được ở nhà. Đến 11 giờ ngày 04/9/2021, Lương Đức M mang 04 (Bốn) điện thoại di động (01 ĐTDĐ Samsung Galaxy J5 màu trắng đục, 01 ĐTDĐ OPPO F11 màu xanh, 01 ĐTDĐ Redmi Note 8 màu trắng, 01 ĐTDĐ Redmi Note 10 màu đen) đến Cửa hàng điện thoại di động TN để bán. Hà Văn N kiểm tra tình trạng máy thì phát hiện tất cả điện thoại đều bị khóa màn hình và có màn hình nền là ảnh không phải của Lương Đức M nên hỏi nhưng Lương Đức M không biết mật khẩu. Hà Văn N nhận thức được các điện thoại Lương Đức M đem bán có nguồn gốc bất minh, là tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn mua tất cả 04 (bốn) máy điện thoại với giá 4.600.000 đồng. Ngày 05/9/2021, Lương Đức M tiếp tục mang điện thoại còn lại (01 ĐTDĐ Redmi Note 9S màu xanh) đến bán cho Hà Văn N thì N vẫn biết đây là tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn tiếp tục mua cho M với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, Hà Văn N đã chạy lại chương trình, khôi phục cài đặt gốc, xóa bỏ dữ liệu trên tất cả máy điện thoại này và bán lại các điện thoại cho các khách hàng lạ, không xác định được lai lịch nên không biết họ ở đâu gồm 01 ĐTDĐ OPPO F11 màu xanh, 01 ĐTDĐ Redmi Note 9S màu xanh, 01 ĐTDĐ Redmi Note 8 màu trắng, 01 ĐTDĐ Redmi Note 10 màu đen: Riêng 01 ĐTDĐ Samsung Galaxy J5 màu trắng đục, Hà Văn N thấy màn hình bị nứt, bể nên tháo bỏ màn hình, thẻ sim, thẻ nhớ (không xác định được bỏ đâu), còn phần thân vỏ chiếc điện thoại này được Hà Văn N cất giữ tại Cửa hàng.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Sơn đã tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, tiến hành kiểm tra xác minh làm rõ. Hà Văn N đã thừa nhận việc mua bán 05 (Năm) điện thoại di động nói trên phù hợp với lời khai của Lương Đức M; Hà Văn N thừa nhận dù nhận thức được 05 (Năm) điện thoại di động mà Lương Đức M mang đến bán là tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn tiêu thụ.
Tổng giá trị 05 (Năm) điện thoại di động nêu trên được Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Bình Sơn kết luận là 18.460.000 đồng.
Ngày 01/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Hà Văn N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự để điều tra.
Quá trình điều tra Lương Đức M còn khai nhận đã lén lút trộm cắp một vụ khác: Khoảng 00 giờ 00 ngày 06/9/2021, Lương Đức M lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động Samsung A32 màu đen trên địa bàn xã TT, huyện ST của anh Đậu Đức K, sinh năm 1987, HKTT: phường QX, thị xã HM, tỉnh NA. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Lương Đức M mang điện thoại đến tiệm điện thoại của Hà Văn N để bán. Qua kiểm tra điện thoại thấy bị khóa màn hình nhưng Lương Đức M không mở khóa được thì Hà Văn N biết đây là tài sản do phạm tội mà có nhưng Hà Văn N vẫn mua với giá 2.800.000 đồng.
Qua làm việc Hà Văn N đã thành khẩn khai nhận vụ việc nêu trên. Đồng thời, Hà Văn N đã tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Samsung A32 màu đen nói trên.
Tài sản trên được Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Sơn Tịnh kết luận định giá: 5.695.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Sơn Tịnh đã khởi tố và chuyển vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn thụ lý và giải quyết.
Tổng giá trị 06 (Sáu) điện thoại mà Lương Đức M trộm cắp tương ứng với Hà Văn N tiêu thụ theo kết luận định giá là 24.155.000 đồng.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi:
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn N phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Hà Văn N 07 (Bảy) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về phần tội danh, hình phạt đối với bị cáo Lương Đức M; phần dân sự, xử lý vật chứng, án phí, và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 09/3/2022, bị cáo Hà Văn N có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ hoặc áp dụng hình phạt tiền. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phần kết luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo, xử phạt bị cáo từ 07 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, do bị cáo có thu nhập không ổn định, bị cáo đã ly hôn vợ và một mình nuôi hai con nhỏ nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Luận cứ bào chữa của Luật sư Nguyễn Công Tuân cho bị cáo Hà Văn N: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hà Văn N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ. Tuy nhiên, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là nặng, bởi, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự; hiện bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình, phải nuôi 02 con nhỏ ăn học, mẹ bị cáo lại bị tai nạn giao thông mới chết, cha là chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù, đầy. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo cho bị cáo, xử mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là 07 tháng cải tạo không giam giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lương Đức M và Hà Văn N mặc dù không quen biết nhau, không hứa hẹn trước nhưng trong các ngày 04/9/2021, 05/9/2021 và 06/9/2021, Hà Văn N đã mua 06 (Sáu) điện thoại di động do Lương Đức M trộm cắp để sữa chữa, bán lại. Khi mua, bị cáo Hà Văn N biết các điện thoại trên không phải của Lương Đức M mà do Lương Đức M trộm cắp. Tổng giá trị 06 (Sáu) điện thoại di động theo kết luận định giá là 24.155.000 đồng (Hai bốn triệu một trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Vì vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hà Văn N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét nội dung, lý do kháng cáo của bị cáo Hà Văn N:
Hành vi tiêu thụ tài sản do Lương Đức M trộm cắp của bị cáo là tiếp tay cho Lương Đức M tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Cấp sơ thẩm xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên áp dụng hình phạt 07 tháng tù đối với bị cáo Hà Văn N.
Tuy nhiên, qua xem xét tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo đã ly hôn vợ vào năm 2017, là lao động chính duy nhất trong gia đình, hiện nay đang nuôi hai con nhỏ đang ăn học là cháu Hà Anh T, sinh ngày 11/10/2009 và Cháu Hà Anh K, sinh ngày 07/6/2011; bị cáo không có anh, chị, em ruột; mẹ đẻ của bị cáo bị tai nạn giao thông mới chết vào ngày 23/5/2022, hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện nay hết sức khó khăn, nếu áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo thì các con của bị cáo không biết nương tựa vào ai. Đồng thời, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo và khoan hồng của pháp luật.
Vì điều kiện hoàn cảnh gia đình nên bị cáo không còn buôn bán, sửa chữa điện thoại thường xuyên, thu nhập không ổn định và bị cáo phải nuôi hai con còn nhỏ ăn học nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HSST ngày 25/2/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn về hình phạt đối với bị cáo Hà Văn N.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Ý kiến đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo Hà Văn N được chấp nhận một phần.
Về án phí: bị cáo Hà Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Hà Văn N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2022/HS-ST ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi về phần hình phạt đối với bị cáo Hà Văn N.
2. Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Hà Văn N 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường TQT, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường TQT nhận được bản án và Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
3. Về án phí: bị cáo Hà Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND, TAND huyện Bình Sơn; - Công an huyện Bình Sơn; - THA dân sự huyện Bình Sơn; - UBND phường Trương Quang Trọng, thành phố Quảng Ngãi; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Năm |