vanban.org

Bản án 161/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN N - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số:161/2018/HS-ST
Ngày 26-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Bà Nguyễn Thụy Vân Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Vân, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 145/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2018 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 165/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm 1986 tại tỉnh H; thƣờng trú: Khối 14, thị trấn K, huyện H, tỉnh Hà T; nghềnghiệp: Rửa xe; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1946 và bà Nguyễn Thị X (đã chết);vợ tên Hồ Thị H, sinh năm 1980; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012;có 05 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1993;tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 28 tháng 11 năm 2014, bị Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B xử 05 tháng tù về tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có, chấp hành xong hình phạt ngày 11/01/2015, bị cáođƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 19/3/2018 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Võ Thị Kim C, sinh năm 1994; địa chỉ: Xóm 2, Vùng T, Phổ Thuận, Đ, tỉnh Q. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Văn X, sinh năm 1976; địa chỉ: Khối 14, Gia Phố, huyện H, Hà T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quátrình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Văn N làm thuê cho tiệm rửa xe “Tuấn Anh” tại địa chỉ 26/7 khu phố H, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B do anh Trần Văn X làm chủ. Khoảng 07 giờ ngày không rõ giữa tháng 01 năm 2018, N rửa xe một mình tại tiệm thì có tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 76F2-0993 đến tiệm nhờ N bán dùm xe với giá 6.000.000 đồng. N hỏi nguồn gốc xe thì T nói xe của T, có giấy đăng ký xe. Thấy xe giá rẻ nên N đồng ý mua để sử dụng và thỏa thuận trả trƣớc 3.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào có tiền thì trả. Sau khi mua xe, N điều khiển xe về phòng trọ tại số 38/25 khu phố Đ4, phƣờng A, thị xã D , tỉnh B để cất giữ. Khoảng 02 ngày sau, T điện thoại cho N đòi số tiền còn lại nhƣng N nói chƣa có tiền trả, lúc này T nói cho N biết xe N mua là do T lấy trộm đƣợc mà có và bên trong cốp xe có giấy đăng ký của chủ xe. Tuy biết đƣợc xe do phạm tội mà có nhƣng N vẫn đồng ý mua và nói với T sẽ trả số tiền còn lại 3.000.000 đồng. Do sợ bị phát hiện nên khoảng 08 giờ ngày 17/01/2018 N điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 76F2-0993 đến tiệm rửa xe “Tuấn Anh”, N tháo biển số 76F2-0993 ra và thay vào biển số 75H6-6034. Khi thay biển số xe anh X nhìn thấy hỏi N thì N nói dối là thay biển số để đi ép kính.

Khoảng 10 giờ ngày 20/01/2018 N điều khiển xe máy có gắn biển số 75H6-6034 đến khu vực tổ 25A, khu phố Đ4, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B, do có biểu hiện nghi vấn nên lực lƣợng tuần tra kiểm tra. Qua kiểm tra N không xuất trình đƣợc giấy tờ xe mang biển số 75H6-6034 mà xuất trình giấy tờ xe mang biển số 76F2-0993 nên công an đƣa N về phƣờng làm việc. Tại công an phƣờng N đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình.

Đối với xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 76F2-0993, qua điều tra xác minh là tài sản của chị Võ Thị Kim C bị mất trộm vào khoảng 21 giờ 50 phút ngày 08/01/2018 tại dãy trọ ở địa chỉ số 92/8, đƣờng số 8, khu phố 3, phƣờng X, quận Đ, Thành phố M. Sau khi bị mất trộm xe máy chị C có trình báo công an phƣờng X, quận Đ, Thành phố M. Đến ngày 16/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Theo bản kết luận định giá số 22/BB.ĐG ngày 31/01/2018 của Hội đồng định giá thị xã D, tỉnh B xác định tài sản bị chiếm đoạt là xe máy hiệu Yamaha Sirius biển số 76F2-0993 có giá trị 8.000.000 đồng.

Tại cáo trạng số 162/CT - VKS ngày 23 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” theo khoản 1Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1Điều 323;điểm s, h khoản 1 Điều51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N mức án từ 06tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Xe máy là vật chứng trong vụ án đã đƣợc thu hồi và chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Đ, Thành phố M điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Đối với biển số xe 75H6-6034 không còn giá trị sử dụng đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N xin Hộiđồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứngkhông khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 07 giờ ngày không rõ giữa tháng 01 năm 2018, Nguyễn Văn N mua lại xe máy hiệu Yamaha Sirius biển số 76F2-0993 từ tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 6.000.000 đồng. Sau đó, mặc dù biết là xe do phạm tội mà có nhƣng bị cáo N vẫn mua và thay đổi biển số xe để sử dụng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự thì:“Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bịphạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng số 162/CT - VKS ngày 23 tháng 5 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo biết xe mô tô có nguồn gốc không hợp pháp nhƣng do ham lợi nên bị cáo vẫn mua xe mục đích sử dụng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nhân thân:Ngày 28 tháng 11 năm 2014, bị Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B xử 05 tháng tù về tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có, chấp hành xong hình phạt ngày 11/01/2015, bị cáo không tu dƣỡng bản thân trở thành ngƣời lƣơng thiện mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật.

Xử lý vật chứng: Xe máy là vật chứng trong vụ án đã đƣợc thu hồi và chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Đ, Thành phố M điều tra xử lý theo thẩm quyền. Đối với biển số xe 75H6-6034 không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hộiquy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có.

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy biển số xe 75H6-6034.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/5/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D với Chi cục thi hành án Dân sự thị xã D).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 (mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ