- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn T-D"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| [ Bản án số: 73/2022/HNGĐ-ST. Ngày: 21/9/2022 V/v “Ly hôn giữa bà T với ông D” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Trung Giàu
2. Bà Nguyễn Thị Loan Phụng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thành Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Lại Đức Trung – Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 216/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2022/QĐXX-ST ngày 22 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Hoài T, sinh năm: 1997;
Địa chỉ: Tổ N, Thị Trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Bị đơn: Ông Trần Thanh D, sinh năm: 1997;
Địa chỉ: khu phố B, phường S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Bà T có Đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Ông D vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/6/2022, Bản tự khai, Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 09/8/2022, nguyên đơn bà Trịnh Hoài T trình bày:
Bà và ông D kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre vào ngày 24/4/2019 do tự nguyện. Sau khi kết hôn, thời gian đầu bà và ông D chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian sau bà và ông D thường xuyên cãi vả do tính tình không hợp, quan điểm sống trái ngược, vợ chồng không ai quan tâm chăm sóc cho ai. Bà và ông D sống ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay. Nay tình cảm giữa bà và ông D không còn nên bà xin ly hôn với ông D.
- 1 -
Về con chung: quá trình chung sống ông bà có 01 con chung tên Trần Hoài P sinh ngày 11/02/2020, cháu P hiện đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì lý do công việc bà không thể đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với ông D nên yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt bà.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đương sự để triệu tập ông Trần Thanh D tới Tòa án để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử nhưng ông Trần Thanh D không đến, do đó Tòa án không thể lấy lời khai của ông D cũng như không tiến hành hòa giải giữa nguyên đơn và bị đơn được.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre có ý kiến: Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự được bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định pháp luật. Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: bà Trịnh Hoài T được ly hôn với ông Trần Thanh D. Về con chung: sau khi ly hôn bà T được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Trần Hoài P sinh ngày 11/02/2020. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết. Án phí giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trịnh Hoài T khởi kiện bị đơn ông Trần Thanh D; quan hệ tranh chấp giữa bà Trịnh Hoài T và ông Trần Thanh D là tranh chấp về ly hôn; hiện nay, ông D đang cư trú tại phường S, thành phố B, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn bà Trịnh Hoài T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Thanh D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn bà Trịnh Hoài T và bị đơn ông Trần Thanh D.
Về nội dung: Bà T và ông D tự nguyện kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn và được ủy ban nhân dân phường S, thành phố B, tỉnh Bến Tre cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24/4/2019 nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo bà T, sau khi kết hôn, thời gian đầu bà và ông D chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian sau bà và ông D thường xuyên cãi vả do tính tình không hợp, quan điểm sống trái ngược, vợ chồng không ai quan tâm chăm sóc
- 2 -
cho ai. Bà và ông D sống ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay. Nay tình cảm giữa bà và ông D không còn nên bà xin ly hôn với ông D. Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre đã mở phiên hòa giải nhiều lần để động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng của bà T và ông D nhưng ông D vẫn cố tình vắng mặt, không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm với bà T. Điều đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
Về con chung: trong quá trình chung sống bà T và ông D có 01 con chung tên Trần Hoài P sinh ngày 11/02/2020. Bà T có yêu cầu được nuôi con chung sau khi ly hôn. Xét thấy, cháu Trần Hoài P hiện đang sống với bà T, có cuộc sống sinh hoạt ổn định. Cháu P hiện dưới 36 tháng tuổi, cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu Trần Hoài P cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đồng bà T phải chịu theo quy định của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Từ những phân tích trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa bà Trịnh Hoài T và ông Trần Thanh D.
2. Về con chung: giao con chung là cháu Trần Hoài P sinh ngày 11/02/2020 cho bà Trịnh Hoài T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- 3 -
Vì quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0005499 ngày 11 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP Bến Tre. - TAND tỉnh Bến Tre. - Chi cục THADS TP Bến Tre. - UBND phường S. - Các đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lương Thị Thùy Dương - 4 - |