vanban.org

Bản án 73/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị C được ly hôn anh Nguyễn Văn Tr.

Về con chung: Cháu Nguyễn Võ Tuấn H, sinh ngày 14/11/2017 hiện nay do anh Nguyễn Văn Tr đang nuôi dưỡng cho chị Võ Thị C trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị C được ly hôn anh Nguyễn Văn Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN TỊNH
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2022/HNGĐ-ST
Ngày 12/7/2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Nga.

Các hội thẩm nhân dân: - Bà Đào Thị Thu Đoàn

- Ông Phạm Quang Ý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2021 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Thị C, sinh năm: 1990; có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm: 1985; vắng mặt không có lý do.

Cùng địa chỉ: X H 2, thôn N, xã Tr, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Tr trước khi kết hôn có tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tr, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 19/6/2008. Sau ngày kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc được 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã, trong lúc cải vã anh Tr có đánh chị, anh Tr sống không tin tưởng chị, tiền bạc làm ra không đưa cho chị để lo cho gia đình, không chăm lo quan tâm gia đình vợ con, mặc dù chị đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh Tr vẫn không thay đổi tính tình. Tháng 9 năm 2021 chị đã làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Văn Tr, được Tòa án động viên, phân tích giải thích nên chị rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng mâu thuẫn vẫn không cải thiện được. Do đó chị đã bỏ nhà đi từ tháng 9 năm 2021, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay.

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị không còn thương yêu anh Nguyễn Văn Tr nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn Tr.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con là Nguyễn Võ Tuấn A, sinh ngày: 28/6/2010 và cháu Nguyễn Võ Tuấn H, sinh ngày: 14/11/2017, hiện hai con đều do anh Tr đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Võ Tuấn H, giao cháu Nguyễn Võ Tuấn A cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh Tr phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay mượn.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Nguyễn Văn Tr vắng mặt không có lý do, và không có văn bản trình bày ý kiến của mình.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Tr không chấp hành theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Võ Thị C được ly hôn anh Nguyễn Văn Tr.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Võ Tuấn H, sinh ngày 14/11/2017 cho chị Võ Thị C trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Võ Tuấn A, sinh ngày: 28/6/2010 cho anh Nguyễn Văn Tr tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Võ Thị C và anh Nguyễn Văn Tr không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết và nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị C phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Võ Thị C xin ly hôn anh Nguyễn Văn Tr hiện đang cư trú và có hộ khẩu thường trú tại xóm H 2, thôn N, xã Tr, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi nên Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn Tr được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị C và anh Nguyễn Văn Tr đăng ký kết hôn vào ngày ngày 16/8/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Tr là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày kết hôn chị C và anh Tr sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp tính nhau, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xẩy ra cãi vã, vợ chồng sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 đến nay. Tại phiên tòa chị Võ Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Văn Tr.

Xét thấy: Chị Võ Thị C và anh Nguyễn Văn Tr đã sống ly thân được một năm, vào tháng 9 năm 2020 chị C cũng đã nộp đơn xin ly hôn anh Tr đến Tòa án, được Tòa án động viên, phân tích nên chị rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con cái nhưng vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ được. Như vậy đời sống hôn nhân của chị C và anh Tr đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử cho chị C được ly hôn với anh Tr là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con là Nguyễn Võ Tuấn A, sinh ngày: 28/6/2010 và cháu Nguyễn Võ Tuấn H, sinh ngày: 14/11/2017, hiện nay hai cháu đều do anh Tr đang nuôi dưỡng; khi ly hôn chị C yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Võ Tuấn H, giao cháu Nguyễn Võ Tuấn A cho anh Tr nuôi dưỡng, không ai có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Xét thấy: Cháu Nguyễn Võ Tuấn A hiện nay do anh Tr đang nuôi dưõng và có nguyên vọng ở với ba, chị C đồng ý giao cháu Nguyễn Võ Tuấn A cho anh Tr nuôi dưỡng nên giao cháu Nguyễn Võ Tuấn A cho anh Tr tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với cháu Nguyễn Võ Tuấn H hiện nay do anh Tr đang nuôi dưõng, chị Cúc yêu cầu được nuôi cháu Hưng. Trong thời gian ly thân do anh Tr không cho chị dẫn con theo và ngăn cản việc chị thăm con nhưng chị đều đến thăm con và có trách nhiệm với con, việc chị C yêu cầu nuôi con anh Tr không có ý kiến gì, chị C có đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu H cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp nên chấp nhận yêu cầu của chị C.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con, anh Tr không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Võ Thị C không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, về nợ chung không có nên Hội Đồng xét xử không xem xét về tài sản chung và nợ chung.

Từ những nhận định trên xét quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh là có cơ sở nên Hộ i đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị Võ Thị C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 235, 266, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị C được ly hôn anh Nguyễn Văn Tr.

2. Về con chung:

Giao:

- Cháu Nguyễn Võ Tuấn H, sinh ngày 14/11/2017 hiện nay do anh Nguyễn Văn Tr đang nuôi dưỡng cho chị Võ Thị C trực tiếp nuôi dưỡng.

- Cháu Nguyễn Võ Tuấn A, sinh ngày 28/6/2010 hiện nay do anh Nguyễn Văn Tr đang nuôi dưỡng cho anh Nguyễn Văn Tr tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị Võ Thị C và anh Nguyễn Văn Tr không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị C chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001228 ngày 17/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Tịnh, chị Võ Thị C đã nộp đủ án phí.

5. Kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ