- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Anh Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tr n Anh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2021/HSST Ngày: 13/9/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ-TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Hà Đồng Tịnh
+ Ông Nguyễn Kim Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hƣơng Trà - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Sơn Trà.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2021/HSST ngày 05 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2021/QĐXX-HS ngày 30/8/2021 đối với bị cáo:
- Họ và tên : Tr n Anh Q
Giới tính: Nam;
- Tên gọi khác: Không;
- Sinh năm: 30.3.1971 tại: Hà Nội;
- Nơi ĐKHKTT: Số 05, Ngõ 215, tổ 2 phường D, quận C, TP Hà Nội;
- Chỗ ở hiện nay: K85/9 đường L, quận S, TP Đà Nẵng;
- Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
- Trình độ học vấn: 12/12;
- Nghề nghiệp: LĐPT;
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Từ tháng 10.2005 đến tháng 10.2008, đi cai nghiện bắt buộc tại
Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Hà Nội.
- Con ông: Trần Danh H (Sn: 1944) và bà Nguyễn Thị K (SN: 1947) cùng
trú tại: Tổ 2, phường D, quận C, TP Hà Nội;
- Vợ: Lê Thị D (SN: 1979), trú tại: K85/9 đường L, quận S, TP Đà Nẵng.
- Bị cáo bị bắt ngày 04/5/2021 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công
an quận Sơn Trà. Có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Xuân T- Sinh
năm: 1956- Trú tại: Tổ 43 phường P, quận S, Tp Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Bà Lê Thị D- Sinh năm: 1979- Nơi ĐKHKTT: Số 05, ngõ 215, tổ 2
phường D, quận C, Tp Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: K85/9 đường L, phường P, quận S, Tp Đà Nẵng; Vắng mặt.
* Ngƣời chứng kiến: Ông Phạm Xuân T- Sinh năm: 1956- Trú tại: Tổ 43
phường P, quận S, Tp Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Bà Lê Thị D- Sinh năm: 1979- Nơi ĐKHKTT: Số 05, ngõ 215, tổ 2
phường D, quận C, Tp Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: K85/9 đường L, phường P, quận S, Tp Đà Nẵng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 50 phút, ngày 04/5/2021, Đội Cảnh sát ĐTTP về ma túy
Công an quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng phối hợp với Công an phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ của Trần Anh Q tại: K85/9 Lê Hữu Trác, Sơn Trà, Đà Nẵng (chủ nhà trọ này là anh Phạm Xuân T; sinh năm: 1956; trú tại: Tổ 43, phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng). Qua kiểm tra, Công an phát hiện tại kệ đựng chén đũa ở khu vực bếp trong phòng trọ của Q có 01gói ni lông kích thước (4x6)cm bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng; 01 nỏ thủy tinh là dụng cụ để sử dụng ma túy và Q khai nhận tinh thể rắn màu trắng trong gói ni lông là ma túy đá do Q đã mua trước đó để sử dụng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản quả tang, tạm giữ tang vật.
Vật chứng tạm giữ: 01 gói ni lông kích thước (4x6)cm bên trong có chứa
chất tinh thể rắn màu trắng (Bì niêm phong ký hiệu Q); 01 nỏ thủy tinh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh dương có số imel 1: 865326044534702, imel 2: 865326046734706, gắn sim số: 0966640068.
Qua điều tra xác định: Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 02.5.2021, Trần
Anh Q sử dụng số điện thoại 0966640068 đăng ký tài khoản zalo là “Tay chơi không tuổi” liên lạc với một người thanh niên có tên tài khoản zalo là “Simple” (không rõ nhân thân, lai lịch, Q quen biết tại vũ trường New Phương Đông) để mua 1.000.000 đồng ma túy đá để sử dụng cho nhu cầu của cá nhân. Người thanh niên đồng ý và mang 01 gói ni lông kích thước (4x6) cm bên trong có chứa ma túy đá đến giao trực tiếp tại phòng trọ cho Q. Sau khi mua được ma túy, Q đã 03 lần lấy ma túy ra sử dụng tại phòng trọ (tại: K85/9 Lê Hữu Trác, Sơn Trà, Đà Nẵng) của mình. Số ma túy còn lại, Q cất giấu tại kệ đựng chén đũa ở khu vực bếp trong phòng trọ để sử dụng dần nhưng chưa kịp sử dụng thì vào lúc 08 giờ 50 phút ngày 04/5/2021, Q bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Theo biên bản xét nghiệm ma túy ngày 04/5/2021 của Cơ quan CSĐT
Công an quận Sơn Trà thì Trần Anh Q dương tính với ma túy, Lê Thị D (vợ của Q) âm tính với ma túy.
Theo Kết luận giám định số 126/GĐ- MT ngày 10.5.2021 của Phòng kỹ
thuật hình sự - Công an TP Đà Nẵng thì: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 gói ni long, trong bì niêm phong ký hiệu Q gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu tinh thể: 1,648 gam.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà giữ
nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 77/CT-VKS-ST ngày 04/8/2021 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Trần Anh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị:
- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 điều
51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Tr n Anh Q từ 21 tháng đến 24 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt 04/5/2021.
Do không xác minh được tài sản riêng của bị cáo nên không áp dụng hình
phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106
Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 126/GĐ-MT ngày 10/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng bên trong có chứa 1,549 gam ma túy, loại Methaphetamine là khối lượng còn lại sau khi giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu; 01 nỏ thủy tinh và thẻ sim số 0966640068, trên sim có dãy số 8984048841006618535.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh dương có số imei 1: 865326044534702, imei 2: 865326046734706, của Trần Anh Q.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của
mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Sơn
Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Trần Anh Q đã khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể: Khoảng 20 giờ ngày 02/5/2021, để có ma túy sử dụng cho nhu cầu của bản thân, Trần Anh Q đã liên hệ với người thanh niên có tên tài khoản zalo là “Simple” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để mua 1.000.000 đồng ma túy, loại Methamethamine. Sau khi mua được ma túy, Q đã nhiều lần lấy ma túy ra sử dụng. Số ma túy còn lại là 1,648 gam, Q cất giấu tại kệ đựng chén đũa ở khu vực bếp trong phòng trọ tại: K85/9 Lê Hữu Trác, Sơn Trà, Đà Nẵng để sử dụng dần nhưng chưa kịp sử dụng thì vào lúc 08 giờ 50 phút ngày 04/5/2021, Q bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo thấy phù hợp với các chứng cứ, tài liệu
điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cở sở xác định hành vi của bị cáo Trần Anh Q đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 04/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Ma
túy tổng hợp Methamphetamine là loại độc chất, có khả năng gây nghiện mạnh, có hại cho sức khoẻ và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội do đó bị Nhà nước cấm tự do tàng trữ, mua bán, vận chuyển hoặc chiếm đoạt. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hại lớn cho xã hội, là hành vi cố ý và thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó, cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc mới tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2005 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục và cải tạo lao động xã hội số 01 thành phố Hà Nội. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong khi lượng hình.
Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Do không xác minh được tài sản riêng của bị cáo
nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Xác định số ma túy còn lại sau khi giám định là
vật cấm lưu hành và những dụng cụ dùng để sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 126/GĐ-MT ngày 10/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng bên trong có chứa 1,549 gam ma túy, loại Methaphetamine là khối lượng còn lại sau khi giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu; 01 nỏ thủy tinh và thẻ sim số 0966640068, trên sim có dãy số 8984048841006618535.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh dương có số
imei 1: 865326044534702, imei 2: 865326046734706 của Trần Anh Q đã dùng vào việc phạm tội, xét thấy còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
(Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện nay do Chi cục Thi hành án quận Sơn
Trà , thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/8/2021).
Đối với chị Lê Thị D và anh Phạm Xuân T: Chị Diền không sử dụng ma
túy cùng Q và không tham gia cùng Q tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng trọ; Anh Thiện cho Q thuê phòng trọ nhưng không biết việc Q sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy tại phòng trọ nên Cơ quan CSĐT – Công an quận Sơn Trà không đề cập xử lý đối với chị Diền và anh Thiện là có căn cứ.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho Q hiện chưa rõ nhân thân, lai
lịch, Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà tách ra xử lý sau là có cơ sở.
Từ những nhận định trên cho thấy đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân
dân quận Sơn Trà tại phiên tòa về tội danh và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật và phù hợp với quan điểm xử lý vụ án của Hội đồng xét xử.
Án phí HSST: Bị cáo Trần Anh Q phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Tr n Anh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Anh Q 01 (Một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 04/5/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 126/GĐ-MT ngày 10/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng bên trong có chứa 1,549 gam ma túy, loại Methaphetamine là khối lượng còn lại sau khi giám định và toàn bộ vỏ bao gói mẫu; 01 nỏ thủy tinh và thẻ sim số 0966640068, trên sim có dãy số 8984048841006618535.
- Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh dương có số imei 1: 865326044534702, imei 2: 865326046734706 của Trần Anh Q
(Các vật chứng, tài sản trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà
đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/8/2021)
3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Anh Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng biết có quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng; - Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà; - Công an quận Sơn Trà; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ TRÂM |