- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Ngọc Tr - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Thị Ngọc Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 73/2021/HS-ST Ngày: 06-5-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vân Thị Thu Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hoàng Liên
2. Ông Trần Thanh Truyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trung– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Diệu- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2021, tại hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố P mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2021/TLST- HS ngày 23-3-2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2021/QĐXXST- HS ngày 22-4-2021 đối với bị cáo:
PHẠM THỊ NGỌC TR- sinh năm: 1995, tại Ninh Thuận.
HKTT: thôn NQ3, xã PS, huyện NP, tỉnh Ninh Thuận; Chỗ ở hiện nay: khu phố 3, phường VH, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T, sinh năm 1972 và bà: Bùi Thị Ngọc A, sinh năm: 1972; Có 01 người con, sinh năm 2019; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 04/9/2020, bị Cơ quan CSĐT Công an Tp. P ra Quyết định khởi tố bị can về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 07/01/2021, bị Cơ quan CSĐT Công an Tp. P ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; Tạm giam: ngày 25/02/2021; Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 25/12/2020, Phạm Thị Ngọc Tr đến thuê phòng số 302 khách sạn NS thuộc khu phố 5, phường PH, thành phố P để nghỉ ngơi. Đến hơn 20 giờ cùng ngày, do muốn sử dụng ma túy nên Tr dùng số điện thoại 0878858330 liên hệ với một người tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) theo số 0562886603 hỏi xin ma túy (đá), C đồng ý cho và hẹn Tr qua ngày hôm sau. Đến khoảng 08 giờ ngày 26/12/2020, C dùng số điện thoại 0562886603 liên hệ yêu cầu Tr đến khu vực sau siêu thị CM thuộc khu phố 5, phường PH để đưa ma túy. Sau khi nhận ma túy từ C, Tr đem về phòng số 302 khách sạn NS để trên bàn. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, lực lượng Công an vào kiểm tra phòng phát hiện 02 bịch ma túy nên lập biên bản bắt quả tang đối với Tr và tạm giữ một số tang vật liên quan.
Tại Kết luận giám định chất ma túy số 424/C09B ngày 13/01/2021 của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon lớn gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 2,0945gam, loại Methamphetamine; Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon nhỏ gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,1808gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng gửi giám định: Tinh thể còn lại sau giám định được niêm phong, có khối lượng: 1,9515gam và 0,1364gam.
Quá trình điều tra, Phạm Thị Ngọc Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, mục đích Tr xin số ma túy trên từ C là để dành sử dụng. Lời khai của Tr phù hợp với chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được.
Cáo trạng số 50/CT-VKSPRTC ngày 16/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên việc truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù.
Bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo đã biết lỗi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/12/2020, tại khách sạn NS, thuộc khu phố 5, phường PH, thành phố P, bị cáo đã cất giữ trái phép 2,2753 gam chất ma túy loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi bỏ trốn đã ra đầu thú; các tình tiết này được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) gói niêm phong chứa số ma túy hoàn lại cùng bao gói gửi tới giám định, trên gói niêm phong có dán giấy niêm phong vụ số 424/C09B ngày 13/01/2021, có chữ kí, ghi tên xác nhận của các bên liên quan, cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, lắp sim số 0878858330 đã qua sử dụng là tang vật trong vụ án, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu hồng - trắng, màn hình trước bị bể nứt nhiều chỗ đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên HĐXX quyết định trả lại cho bị cáo.
Đối với người đàn ông tên C đã đưa ma túy cho bị cáo, chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với chủ khách sạn NS, không biết việc bị cáo cất giữ ma túy trong phòng nên không xử lý là phù hợp .
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Phạm Thị Ngọc Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: bị cáo Phạm Thị Ngọc Tr 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/02/2021.
Căn cứ vào: các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong hoàn lại bao gói gửi tới giám định, trên gói niêm phong có dán giấy niêm phong vụ số 424/C09B ngày 13/01/2021, có chữ kí, ghi tên xác nhận của các bên liên quan: Bùi Thúy H, Lê Viết C1; bên trong chứa 2,0879 gam ma túy, loại Methamphetamine cùng với các bao gói gửi đến giám định, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22-3-2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, lắp sim số 0878858330 đã qua sử dụng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22-3-2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu hồng - trắng, màn hình trước bị bể nứt nhiều chỗ đã qua sử dụng, hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22-3-2021.
Về án phí:
Căn cứ vào: Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND TP. P; - Công an TP. P; - Sở Tư pháp tỉnh; - Chi cục THADS TP. P; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vân Thị Thu Sang |