- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị N - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 25/2017/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2021/HS-PT Ngày 09 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Nguyệt
Các Thẩm phán: Ông Trần Quang Khang
Bà Tăng Trần Quỳnh Phương
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lâm Trấn Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 91/2021/TLPT-HS ngày 27 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Thị N do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2017/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị N, sinh năm 1957 tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Ấp XX, xã PTT.A, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm vuông; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P (chết) và bà Nguyễn Thị V (đã chết); Có chồng tên Trần Văn T, sinh năm 1955 và 06 người con (lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1990); Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 24/4/2020 bị UBND xã PTT.A, huyện P, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đánh bạc”; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2021 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 14/01/2021, lực lượng Công an xã PTT.A, huyện P bắt quả tang Nguyễn Thị N, Trần Thị T1, Võ Thị Đ và Lê Thị N1 có hành vi đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền. Thu giữ trên chiếu bạc gồm: Tiền Việt Nam đang lưu hành 410.000 đồng (trong đó có 10.000 đồng không liên quan đến vụ án trên nên đã trả lại cho chủ sơ hữu), 01 chiếc chiếu lác và 10 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra chứng minh được các đối tượng trên đã góp tiền mua 10 bộ bài tứ sắc rồi cùng nhau sát phạt thắng, thua bằng tiền tại nhà của bà Võ Thị Đ thuộc ấp XY, xã PTT.A, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Hình thức đánh bài tứ sắc là mỗi ván gồm 04 tụ (04 người chơi), một người tới thì ba người còn lại mỗi người chung cho người tới 5.000 đồng, nếu tới quan là 10.000 đồng.
Qua kiểm tra, đối chiếu xác định tổng số tiền Nguyễn Thị N cùng với Trần Thị T1, Võ Thị Đ và Lê Thị N1 dùng vào mục đích đánh bạc cụ thể như sau: Nguyễn Thị N, Trần Thị T1, Võ Thị Đ và Lê Thị N1 mỗi người mang theo số tiền 100.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Thị N dùng vào việc đánh bạc là 400.000 đồng.
Quá trình điều tra chứng minh được ngày 24/4/2020, Nguyễn Thị N bị Chủ tịch UBND xã PTT.A, huyện P, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đánh bạc” chưa được xóa tiền sự nhưng tiếp tục vi phạm.
Tại Bản án sơ thẩm số 25/2017/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc”.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29 tháng 9 năm 2021, bị cáo Nguyễn Thị N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đề nghị: Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn luật định nên cấp phúc thẩm chấp nhận và đưa ra xét xử là hợp lệ. Về nội dung: cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo mức án 03 (ba) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 25/2017/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về thể thức và thời hạn nên được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 11 giờ 30 phút đến 12 giờ 00 phút ngày 14/01/2021, tại nhà của Võ Thị Đ, ngụ ấp XY, xã PTT.A, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Nguyễn Thị N và Trần Thị T1, Võ Thị Đ, Lê Thị N1 đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bài được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài tứ sắc với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 400.000 đồng, thì bị Công an xã PTT.A phát hiện, bắt quả tang.
[3] Bị cáo Nguyễn Thị N bị Ủy ban nhân dân xã PTT.A, huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” vào ngày 24/4/2020 nên tính đến ngày 14/01/2021, chưa được xóa tiền sự lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Với những hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị N không những xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn trực tiếp xâm phạm đến nếp sống văn minh của xã hội, vì việc đánh bạc nói chung là một tệ nạn xã hội, hành vi thắng thua sát phạt nhau của bị cáo còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây bất ổn tình hình trật tự tại địa phương. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có cha là người có công với cách mạng theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
[5] Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 24/4/2020 bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, lẽ ra bị cáo phải biết ăn năn, hối cải về hành vi vi phạm của mình nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền vào ngày 14/01/2021, điều đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém nên cần phải áp dụng hình phạt tù mới đảm bảo cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm. Mặt khác, các lý do bị cáo trình bày không phải là căn cứ để được xem xét cho bị cáo hưởng án treo, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
[6] Như đã phân tích, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo yêu cầu xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo.
[7] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo. Như đã phân tích, có căn cứ chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Bạc Liêu.
[8] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị N được miễn toàn bộ án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị N.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 25/2017/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc”.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự : Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Thị N được miễn nộp án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện P; - Cơ quan HS nghiệp vụ CA tỉnh Bạc Liêu; - TAND huyện P; - CQĐT huyện P; - Chi cục THADS huyện P (để thi hành); - Bị cáo - Lưu:HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký tên và đóng dấu Châu Minh Nguyệt |