- Tranh chấp gì? án hình sự — "O đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim O phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƢỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2020/HS-ST Ngày: 21-9-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƢỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Chung
2. Ông Nguyễn Thế Lực
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Đắc - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Kim O, sinh ngày 07 tháng 7 năm 1977; Sinh trú quán: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc C sinh năm 1944 và bà Lê Thị A sinh năm 1942; Chồng: Cao Duy Q sinh năm 1977 (đã ly hôn) và có hai con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 29/6/2020 đến ngày 08/7/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 29/6/2020, Nguyễn Thị Kim O đang bán hàng tạp hóa tại cửa hàng và là nhà ở của O thì có Nguyễn Văn L sinh năm 1995 ở xã T, huyện Y và Nguyễn Văn V sinh năm 2000 ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đến mua nước, thuốc. Trong khi ngồi uống nước L và V hỏi O bán số lô, số đề trái phép cho L và V, do nảy sinh lòng tham nên O đồng ý bán số lô, số đề trái phép cho L và V để thu lời. Do quá trình bán hàng tạp hóa, O nghe mọi người nói chuyện về cách thức ghi lô, đề nên O bảo L, V mỗi điểm lô O bán với giá 22.500đ, nếu trúng thì được trả 80.000đ/1 điểm; số đề thì tỉ lệ 1 ăn 70, L, V đồng ý. L bảo O bán cho L các số lô 87, 57 mỗi số 50 điểm, số lô 14 với lượng 30 điểm và số đề 87 với lượng 45.000đ, tổng số tiền L mua số lô, số đề là 2.970.000đ. O khuyến mại cho L thêm 5.000đ tiền ghi số đề 87, tổng số tiền O bán số lô, số đề cho L là 2.975.000đ. O lấy 01 chiếc bút bi nước mực màu xanh ghi các số lô, số đề cùng lượng điểm, lượng tiền O bán cho L vào một mặt tờ giấy được xé ra từ vỏ cây thuốc lá Thăng L. Ghi xong, O bảo L tiền mua nước và thuốc hết 30.000đ, L lấy 3.000.000đ trả cho O, O cầm tiền đúc vào túi quần bên phải đang mặc.
Sau khi L mua số lô, số đề của O, V cũng bảo O bán số lô, số đề trái phép cho V. V mua số lô 42 với lượng 100 điểm, số đề 42 với lượng 250.000đ. Tổng số tiền V mua số lô, số đề của O là 2.500.000đ. O tiếp tục dùng bút bi nước mực màu xanh ghi số lô, số đề cùng lượng điểm, lượng tiền tương ứng O bán cho V vào mặt tờ giấy xé từ vỏ cây thuốc lá O vừa ghi các số lô, số đề bán cho L. V lấy 2.500.000đ trả cho O, O cầm tiền đúc vào túi quần bên phải cùng với số tiền L vừa trả. Tờ cáp ghi lô, đề O vừa ghi các số lô, số đề bán cho L, V, O đúc vào túi quần bên trái. Đúng lúc này, tổ công tác Công an huyện Vĩnh Tường làm nhiệm vụ đã phát hiện, bắt quả tang hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép của O cho L và V.
Vật chứng thu giữ gồm:
- Thu tại túi quần bên phải của O số tiền 5.500.000đ (bao gồm 11 tờ tiền polyme mệnh giá 500.000đ);
- Thu tại túi quần bên trái của O 01 tờ giấy hình chữ nhật được xé ra từ vỏ cây thuốc lá Thăng L có kích thước 10cm x 28cm, tại mặt của tờ giấy này có ghi các chữ số: 87 50 57 50/ 14 30
42 100/Đ 42 250N 2250 675/2925 20/ Đ 87.50;
- Thu tại mặt bàn nơi O ngồi ghi bán số lô, số đề 01 chiếc bút bi mực màu xanh có in nhãn hiệu Vmax JOYKO.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Thị Kim O khai nhận, ngày 29/6/2020 khi L và V hỏi mua số lô, số đề trái phép, do nảy sinh ý định kiếm lời nên O đồng ý, O tự bán số lô, số đề không làm thư ký cho chủ lô, đề nào, O được tiền khi thắng và tự trả thưởng khi thua. Ngày 29/6/2020, O đã đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép cho L và V với tổng số tiền là 5.475.000đ. Hình thức đánh bạc bằng cách bán số lô, số đề là các con bạc đặt cược vào các số tự nhiên với chủ lô, đề sau đó dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc hàng ngày để xác định thắng thua và trả thưởng. Đối với số lô, tỷ lệ thắng được tính bằng điểm, một điểm người chơi phải trả 22.500đ, nếu số người chơi mua trùng với 02 số cuối của một trong 27 giải xổ số miền Bắc thì sẽ trúng thưởng và được trả 80.000đ/1 điểm. Trường hợp số lô khách mua trùng với 02 số cuối của nhiều giải thường thì số tiền thưởng của khách sẽ được nhân lên theo số lần tương ứng (không quá 03 lần). Đối với số đề nếu người chơi mua trùng với 2 số cuối giải đặc biệt xổ số miền Bắc thì sẽ trúng thưởng được nhân với 70 lần số tiền đặt cược. Nếu không trúng người bán số lô, số đề sẽ được hưởng số tiền khách mua.
Tại bản Cáo trạng số: 81/CT-VKS-VT ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim O về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo O và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo O phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo O từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
.Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 29/6/2020, tại quán tạp hóa và nhà ở của gia đình Nguyễn Thị Kim O, tổ công tác Công an huyện Vĩnh Tường làm nhiệm vụ, bắt quả tang O có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép cho 02 đối tượng tự khai tên là Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn V với tổng số tiền 5.475.000đ (trong đó O bán số lô, số đề cho L với số tiền 2.975.000đ; bán số lô, số đề cho V với số tiền 2.500.000đ). Vật chứng thu giữ gồm: 5.500.000đ; 01 chiếc bút bi mực nước màu xanh và 01 tờ cáp lô, đề được xé từ vỏ cây thuốc lá Thăng L.
Với hành vi đánh số lô, số đề thắng thua bằng tiền của O, nhằm mục đích tư lợi như nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền…có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét về tính chất, mức độ hành vi thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi đó đã trực tiếp xâm hại tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Do vậy, cần thiết phải có hình phạt tương xứng đối với bị cáo để trừng trị và giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa và giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo O không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải trước lỗi lầm đã phạm và mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bản thân bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét thấy không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mà cho bị cáo được hưởng mức án treo và giao bị cáo cho c
bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ giúp bị cáo cải tạo thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo O đã ly hôn chồng, thu nhập thấp lại đang phải nuôi hai con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về các vấn đề khác:
Đối với 02 đối tượng tự khai tên Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn V đã có hành vi mua số lô, số đề của Nguyễn Thị Kim O ngày 29/6/2020 khi bị bắt quả tang, quá trình làm việc, L và V khai ngày 29/6/2020 đã rủ nhau đi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề trái phép để kiểm lời, sau khi lấy lời khai và tự V bản tường trình, L và V xin đi vệ sinh rồi tự ý bỏ đi khỏi trụ sở Công an huyện. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại xã T và xã Đ, huyện Y nhưng không có người nào nhân thân như L và V khai báo. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 5.500.000đ thu giữ tại túi quần của Nguyễn Thị Kim O, qua điều tra xác định có 5.470.000đ là tiền O đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép cho L và V mà có; còn lại 30.000đ là tiền O bán nước và thuốc cho L. Do vậy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 5.470.000đ; trả lại cho O số tiền 30.000đ nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 chiếc bút bi mực nước màu xanh, quá trình điều tra xác định đây là công cụ O sử dụng để đánh bạc, do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 mảnh giấy xé ra từ vỏ cây thuốc lá Thăng L thu giữ trong túi quần của O, quá trình điều tra xác định đây là tờ cáp lô, đề O sử dụng để ghi các số lô, số đề và lượng điểm lượng tiền tương ứng O bán cho L và V. Do vậy cần tịch thu lưu hồ sơ vụ án.
. Về án phí: Bị cáo O phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 17 của Bộ luật Hình sự:.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim O phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim O 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 02 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Về các vấn đề khác: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 mảnh giấy xé ra từ vỏ cây thuốc lá Thăng L là tờ cáp lô, đề O sử dụng để ghi các số lô, số đề và lượng điểm lượng tiền tương ứng.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 5.470.000đ (Năm triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo O.
Trả lại cho bị cáo O 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi mực nước màu xanh.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).
Bị cáo Nguyễn Thị Kim O phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Tường; - CA huyện Vĩnh Tường; - THADS huyện Vĩnh Tường; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Lưu HS + VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Trƣờng Sơn |