- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị S.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2020/HNGĐ-ST Ngày: 20 – 10 – 2020 “V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Diệp Hồng Châu.
2/ Ông Hà Hùng Kiệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Sa The - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 196/2020/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2020 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2020/QĐXXST–HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Lý Thị S, sinh năm 1989.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số z ấp B, xã V, huyện T tỉnh S.
Nơi ở hiện nay: Số z ấp K, xã L, huyện T, tỉnh S (Bà S vắng mặt – có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Ông Thạch N, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Số z ấp B, xã V, huyện T, tỉnh S (Ông Thạch N vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Lý Thị S trình bày:
Bà với ông Thạch N tổ chức lễ cưới vào năm 2011 nhưng đến năm 2013 ông bà mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh S và được Ủy ban nhân dân xã V cấp giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 22 tháng 4 năm 2013. Ông bà chung sống hạnh phúc cho đến tháng 3 năm 2019 thì phát sinh sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai người bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Ông bà đã không còn sống chung từ tháng 3 năm 2019 cho đến nay.
Trong quá trình chung sống, bà S với ông Thạch N có một con chung tên Thạch Minh K, sinh ngày 10/4/2013. Hiện cháu đang sống với ông Thạch N.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay bà Lý Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Thạch N.
- Về con chung: Đồng ý cho ông Thạch N được trực tiếp nuôi con và bà cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà S trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Thạch N không có lời trình bày do vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 196/TB-TLVA ngày 31 tháng 7 năm 2020, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Thạch N nhưng ông Thạch N không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị S. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông Thạch N để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Thạch N đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành mở phiên họp và đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được. Đồng thời đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lý Thị S ly hôn với ông Thạch N. Về con chung: Giao con chung cho ông Thạch N trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Lý Thị S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bà Lý Thị S và ông Thạch N đều vắng mặt nhưng nguyên đơn bà Lý Thị S có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, còn ông Thạch N mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà S và ông Thạch N.
Về nội dung: Bà Lý Thị S và ông Thạch N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh S cấp giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 22 tháng 4 năm 2013 nên quan hệ hôn nhân giữa bà S và ông Thạch N là hợp pháp.
Xét lý do xin ly hôn của bà S, Hội đồng xét xử thấy, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng bà S, ông N hạnh phúc cho đến tháng 3 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai người thường xuyên cãi vã. Ông bà đã không còn chung sống với nhau từ tháng 3 năm 2019 cho đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc nhau. Hội đồng xét xử xét thấy bà S, ông Thạch N đã mâu thuẫn, bất đồng ý kiến trong thời gian dài, tình trạng hôn nhân của vợ chồng ông, bà trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà S.
Về con chung: Cháu Thạch Minh K, sinh ngày 10/4/2013 đang sống cùng ông Thạch N. Theo văn bản đề ngày 24/9/2020, cháu Minh K có nguyện vọng được sống với cha nếu cha và mẹ cháu ly hôn. Xét thấy, từ khi bà S và ông Thạch N không còn sống chung thì cháu Minh K sống chung với ông Thạch N, do ông Thạch N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xem xét giao cháu Minh K cho ông Thạch Nỹ nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lý Thị S tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Minh Khang mỗi tháng là 1.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của bà S.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà S trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà S phải chịu án phí về yêu cầu ly hôn và chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị S.
- Về hôn nhân: Bà Lý Thị S được quyền ly hôn với ông Thạch N.
- Về con chung: Giao cháu Thạch Minh K, sinh ngày 10/4/2013 cho ông Thạch N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Lý Thị S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp bà Lý Thị S lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông Thạch N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà Lý Thị S. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lý Thị S tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Thạch Minh K mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), cấp dưỡng cho đến khi cháu Thạch Minh K đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 20 tháng 10 năm 2020. Ông Thạch N là người trực tiếp nhận tiền cấp dưỡng.
Địa điểm giao nhận tiền cấp dưỡng: Tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lý Thị S trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lý Thị S chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về yêu cầu ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tổng cộng là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Bà Lý Thị S được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2017/0002240 ngày 24/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy, bà Lý Thị S phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND huyện T; -Chi cục THA huyện T; -TAND tỉnh S (P.KTNV&THA); -Các đương sự; -UBND xã V, huyện T, tỉnh S; -Lưu HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Ngọc Trân |