- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Di L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 136, khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2019/HS-ST Ngày 29 - 8 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Nhàn
Bà Đoàn Thị Quyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kỳ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Di L - sinh ngày 29/6/1988 tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Xóm 7B, xã T, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh P (Đã chết) và bà Trần Thị M; Vợ Lê Thị K (sinh năm 1985) và có 02 con; Tiền sự, Tiền án: không; Bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/6/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 17/6/2019, nhận được tin báo của quần chúng, tại khu vực cánh đồng ngô thuộc xóm 9, xã Đà Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện Đô Lương yêu cầu Nguyễn Di L dừng xe kiểm tra hành chính thì bắt quả tang Linh đang tàng trữ 02 gói chất bột màu trắng (nghi là ma túy) trong lòng bàn tay trái.
Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật là 02 gói nhỏ bằng giấy màu trắng, kích thước 1cmx1,5cm bên trong chứa chất bột màu trắng và tiến hành niêm phong trong phong bì thư của Công an huyện Đô Lương, 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM màu nâu trắng, biển kiểm soát 37H3-5277 đã qua sử dụng.
Tổ công tác đã đưa đối tượng về tạm giữ tại trụ sở Công an huyện Đô Lương vào ngày 17/6/2019; tiến hành mở niêm phong, lập biên bản xác định khối lượng và lấy mẫu giám định vào ngày 17/6/2019. Kết quả số chất bột màu trắng có khối lượng 0,266g; lấy toàn bộ mẫu gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An để giám định theo Quyết định trưng cầu giám định số 85 ngày 18/6/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương.
Tại Kết luận giám định số 914/KL-PC09(MT) ngày 21/6/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Hai mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Di L gửi tới giám định đều là ma túy (Heroine). Chất bột màu trắng (02 gói) thu giữ của Nguyễn Di L có tổng khối lượng là 0,266g. Đối tượng gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra, Nguyễn Di L khai nhận: Số ma túy bị cáo tàng trữ và bị thu giữ ngày 17/6/2019 là của bị cáo mua của một người phụ nữ không quen biết với giá 190.000 đồng tại đường rẽ vào bến cát thuộc xã Đà Sơn, huyện Đô Lương, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An lúc khoảng hơn 18 giờ 30 phút cùng ngày với mục đích mang về sử dụng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cầm ma túy trong bàn tay trái và điều khiển xe mô tô đi đến cánh đồng ngô thuộc xóm 9, xã Đà Sơn để sử dụng thì bị Công an bắt giữ. Bị cáo biết được thông tin có người phụ nữ bán ma túy từ các đối tượng nghiện ma túy và sử dụng các ám hiệu để giao dịch mua bán.
Ngày 01/8/2019, cơ quan điều tra đã chuyển số vật chứng cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương bảo quản gồm: Vỏ giấy, vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Nguyễn Di L đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư màu nâu có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia. Còn chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM màu nâu trắng, biển kiểm soát 37H3-5277 đã qua sử dụng là của chị Trần Thị L, trú tại xóm 7B, xã T, huyện Thanh Chương; Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKS-HS ngày 31/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo L khai nhận: Do nghiện ma túy nên vào ngày 17/6/2019, bị cáo đã mua ma túy của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực đường rẽ vào bến cát thuộc xã Đà Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An với số tiền 190.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cầm ma túy trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe máy đi về cánh đồng ngô thuộc địa phận xóm 9, xã Đà Sơn thì bị bắt. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị: giữ nguyên việc truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng là tiêu hủy vỏ giấy gói ma túy ban đầu, phong bì thư niêm phong ban đầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
- Trong quá trình điều tra: Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn.
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.
Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Về nội dung:
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, người làm chứng, vật chứng được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút đến 19 giờ 00 phút, ngày 17/6/2019, tại khu vực cánh đồng ngô thuộc xóm 9, xã Đà Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, bị cáo Nguyễn Di L đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy (Heroine) có khối lượng 0,266g trong lòng bàn tay trái với mục đích để sử dụng thì bị Tổ tuần tra Công an huyện Đô Lương phát hiện bắt quả tang. Hành vi của Nguyễn Di L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương để xác định tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo.
Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước về phòng chống ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Ma túy đã và đang trở thành hiểm hoạ lớn của nhân loại; trở thành vấn đề nhức nhối trong đời sống cộng đồng. Ma túy đã hủy hoại đời sống con người, làm suy thoái nòi giống, làm xói mòn các giá trị văn hóa gia đình, đạo đức xã hội và là nguồn gốc, nguyên nhân, tiềm tàng phát sinh nhiều loại tội phạm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Do vậy, cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự), trước khi thực hiện hành vi phạm tội có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về làm công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: 0,266g ma túy thu giữ của Nguyễn Di L đã được sử dụng hết vào mục đích giám định kỹ thuật hình sự nên không xem xét; vỏ giấy gói ma túy (vật mang dấu vết tội phạm) và phong bì thư niêm phong vật chứng không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA, loại xe DREAM màu nâu trắng, biển kiểm soát 37H3-5277 đã qua sử dụng là của chị Trần Thị L cho bị cáo mượn, chị L không biết việc bị cáo mượn xe để sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng.
Vấn đề khác:
Người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo chưa xác minh được danh tính, cơ quan điều tra đang tiếp tục tiến hành xác minh, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 136, khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Di L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Di L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 17/6/2019.
- Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy vỏ giấy gói ma túy và phong bì thư niêm phong ban đầu.
(Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương và phản ánh tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2019).
- Về án phí: bị cáo Nguyễn Di L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Đô Lương; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - CQĐT Công an huyện Đô Lương; - CQTHAHS huyện Đô Lương; - CCTHADS huyện Đô Lương; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hồng Thể |