- Tranh chấp gì? án hình sự — "xét xử vụ án hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Đánh bạc".
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2018/HSST Ngày: 30/7/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Hữu Bình và bà Trần Thị Thanh Khiêm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Doanh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2018/TLST-HS, ngày 29 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2018/QĐXXST-HS ngày 14/6/2018, đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN C, sinh ngày 01/11/1979, tại tỉnh Hà Nam;
Nơi cư trú: Tổ T, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang ; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1956; Vợ: Hoàng Thị Phương A (đã ly hôn), con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự, bị Công an phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 48 ngày 31/5/2017 phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc; Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Bùi Văn T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ 06, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
- Anh Hoàng Tuấn A, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ 06, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; nơi cư trú: Xóm 07, xã T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
- Bà Vũ Thị Kim H, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ 12, phường Y, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 03/3/2018, Hoàng Tuấn A gọi điện rủ Bùi Văn T, T gọi điện rủ Nguyễn Văn C đến nhà Vũ Thị Kim H để đánh bạc. Khi T và C đến nhà H gặp Hoàng Tuấn A và Nguyễn Thị H đang ngồi uống nước, sau đó Hoàng Tuấn A, Bùi Văn T, Nguyễn Văn C và Nguyễn Thị H rủ nhau lên tầng 2 nhà H để đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền. Hoàng Tuấn A đi xuống bếp nhà H lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ và cắt 04 quân lµm b»ng que ®ãm b«i mét mÆt ®en, mét mÆt ®Ó tr¾ng đem lên tầng 2 đánh bạc, khi đánh bạc Hoàng Tuấn A và Bùi Văn T thay nhau cÇm c¸i cho mäi ng êi ®¸nh b¹c, tÊt c¶ thèng nhÊt, bªn tay ph¶i cña ng êi cÇm c¸i lµ cöa ch½n, bªn tay tr¸i cña ng êi cÇm c¸i lµ cöa lÎ, møc ®¸nh tõ 50.000 ®ång ®Õn 100.000 ®ång/v¸n. Ng êi cÇm c¸i lÊy b¸t, ®Üa cho 04 qu©n bµi vµo sãc råi ®Æt xuèng chiÕu, mäi ng êi ®Æt tiÒn vµo cöa ch½n hoÆc cöa lÎ, sau khi mäi ng êi ®Æt tiÒn xong, ng êi cÇm c¸i më b¸t ra nÕu cã 02 qu©n mÆt ®en vµ 02 qu©n mÆt tr¾ng hoÆc 4 qu©n ®Òu mÆt ®en, 04 qu©n ®Òu mÆt tr¾ng ® îc tÝnh lµ ch½n vµ ng îc l¹i nÕu 3 qu©n ®en, 01 qu©n tr¾ng hoÆc 03 qu©n tr¾ng 01 qu©n ®en ® îc tÝnh lµ lÎ. Khi më b¸t nÕu lµ ch½n th× ng êi ®Æt tiÒn bªn cöa ch½n th¾ng, nÕu lµ lÎ th× ng êi ®Æt tiÒn cöa lÎ th¾ng vµ ® îc tr¶ tiÒn t ¬ng ® ¬ng víi sè tiÒn ®· ®Æt cöa. Khi c¸c ®èi t îng ®¸nh b¹c th× H lªn thu tiÒn hå (tiÒn ngåi nhê ®Þa ®iÓm) mçi ng êi 50.000 ®ång, tæng sè tiÒn lµ 200.000 ®ång.
Các đối tượng đánh bạc đến 14 giờ 40 phút cùng ngày, thì bị tổ công tác Công an thành phố Tuyên Quang phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính. Thu giữ tang vật gồm 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân lµm b»ng que ®ãm mét mÆt ®en, mét mÆt ®Ó tr¾ng và 3.610.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là 3.610.000 đồng. Thắng, thua cụ thể như sau:
Nguyễn Văn C sử dụng 970.000 đồng đánh bạc, nộp cho H chủ nhà 50.000 đồng, khi bị phát hiện C thắng và bị thu giữ 2.020.000 đồng.
Hoàng Tuấn A sử dụng 400.000 đồng đánh bạc, nộp cho H chủ nhà 50.000 đồng, khi bị phát hiện Tuấn A đang thắng và bị thu giữ 1.290.000 đồng.
Bùi Văn T sử dụng 2.000.000 đồng đánh bạc, nộp cho H chủ nhà 50.000 đồng, khi bị phát hiện T bị thua 1.940.000 đồng, còn 10.000 đồng bị thu giữ.
Nguyễn Thị H sử dụng 240.000 đồng đánh bạc, nộp cho bà H chủ nhà 50.000 đồng, khi bị phát hiện H bị thua 100.000 đồng, còn 90.000 đồng bị thu giữ.
Tại bản Cáo trạng số 57/CT-VKSTP ngày 28 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C, đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Đánh bạc". Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND phường Tân Hà, thành phố Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Phạt tiền 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập của bị cáo, xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Văn C nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất được cải tạo tại địa phương vì hiện tại vợ chồng bị cáo đã ly hôn, bị cáo đang nuôi con học lớp 06.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh qua biên bản vi phạm hành chính, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/3/2018, tại gia đình Vũ Thị Kim H trú tại tổ 12, phường Y, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Nguyễn Văn C, Hoàng Tuấn A, Bùi Văn T và Nguyễn Thị H có hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 3.610.000đ (trong đó Nguyễn Văn C 970.000đ, Bùi Văn T 2.000.000đ, Hoàng Tuấn A 400.000đ, Nguyễn Thị H 240.000đ). Số tiền sử dụng đánh bạc dưới năm triệu đồng, nhưng Nguyễn Văn C đã bÞ C«ng an ph êng H ng Thµnh, thµnh phè Tuyªn Quang xö ph¹t vi ph¹m hµnh chÝnh t¹i QuyÕt ®Þnh sè 48 ngµy 31/5/2017 ph¹t 1.500.000 ®ång vÒ hµnh vi ®¸nh b¹c. Nên hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, đoạn 1, đoạn 2 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về mức án mà Viện kiểm sát đề nghị: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Số tiền bị cáo dùng để đánh bạc dưới mức định tội, nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc.
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời bị cáo đã ly hôn và là lao động chính trong gia đình, một mình đang nuôi con nhỏ ăn học (học lớp 6), có đơn đề nghị xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất được cải tạo tại địa phương có xác nhận của chính quyền địa phương. Do vậy Hội đồng xét xử xét mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo. Thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước, tạo điều kiện cho bị cáo lao động nuôi con ăn học.
. Xét thấy bị cáo phạm tội có mục đích vụ lợi nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Do đã phạt tiền bị cáo và hiện bị cáo đang nuôi con ăn học nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
. Đối với hành vi đánh bạc của Hoàng Tuấn A, Bùi Văn T và Nguyễn Thị H không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an thành phố Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 105, 106, 107 ngày 27/3/2018, xử phạt A, T, H mỗi người 1.500.000đ, Hành vi gá bạc của Vũ Thị Kim H không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Ủy ban nhân dân thành phố Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 76 ngày 29/3/2018, xử phạt H 7.500.000 đồng nên HĐXX không đề cập xử lý.
. Về vật chứng: Số tiền Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang thu giữ tại chiếu bạc là và 3.610.000đ, xác định số tiền này là bị cáo và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước. 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài làm bằng que đóm, 01 mặt đen, 01 mặt trắng là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.
. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào:Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Đánh bạc".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 01 (Một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND phường Tân Hà, thành phố Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Phạt tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) bát sứ màu trắng, loại bát ăn cơm, đã qua sử dụng; 01 (Một) đĩa sứ màu trắng đã qua sử dụng; 04 (Bốn) đoạn que đóm, kích thước 1x1 cm, một mặt được bôi đen. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 06/6/2018.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.610.000đ (Ba triệu sáu trăm mười nghìn đồng). Toàn bộ số tiền tịch thu sung quỹ Nhà nước đã chuyển vào tài khoản số 3949.0.1064848.00000 của Chị cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang tại Phòng giao dịch – KBNN Tuyên Quang.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang ; - VKSND thành phố Tuyên Quang ; - Công an thành phố Tuyên Quang; - Chi cục THADS thành phố; - Sở Tư pháp Tuyên Quang; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Người tham gia tố tụng; - Hồ sơ vụ án hình sự; - Thi hành án hình sự; - Lưu HS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Hà Hữu Bình Đỗ Thị Thu Hằng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Mạnh Tuấn HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Hà |