vanban.org

Bản án 73/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 05/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Giàng A D phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2]. Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Giàng A D 58 (Năm mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (26/6/2018). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Giàng A D phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NẬM PỒ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––
Bản án số: 73/2018/HSST
Ngày: 05- 11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thùng Văn Quân;

2. Ông Vàng A Hý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa:

Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2018/TLST

- HS, ngày 27 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2018/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng A D; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1974, tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản H, xã C, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không; Nghề nghiệp: Làm nương; Họ tên cha: Giàng A K (Đã chết); Họ tên mẹ: Thào Thị S; Sinh năm 1944; Anh chị em ruột: Có 09 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Lý Thị S; Sinh năm 1977; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất 17 tuổi, con nhỏ nhất 13 tuổi; Hiện vợ và con của bị cáo đang cư trú tại Bản H, xã C, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, từ nhỏ không được đi học ở nhà lao động sản xuất, năm 1986 di cư cùng gia đình về bản C, xã S, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên làm nương, năm 1996 lấy vợ. Năm 1997 cùng vợ và gia đình di cư lên Bản H, xã C, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Ngày 09/10/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Tháng 3 năm 2010 chấp hành xong hình phạt về cư trú tại Bản H, xã C, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên làm nương, đến ngày 26/6/2018 bị bắt phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2018, sau đó bị tạm giam cho đến nay; Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 26/6/2018, tổ công tác Đồn Biên Phòng Si Pha Phìn phối hợp với Công an xã P, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đang làm nhiệm vụ tại bản Đ, xã P, huyện Nậm Pồ phát hiện một người đàn ông đang điều khiển xe máy Honda Wave mầu đỏ trắng lưu thông trên đường từ mốc 66 về hướng tổ công tác có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy. Tổ công tác đã ra tín hiệu dừng xe thì phát hiện đối tượng vứt từ tay xuống đất 01 (Một) gói nhỏ nilon mầu trắng. Sau khi khống chế được đối tượng, tổ công tác yêu cầu đối tượng nhặt gói nilon mầu trắng đó lên. Đối tượng khai tên Giàng A D. Qua kiểm tra 01 gói nilon mầu trắng, mở ra bên trong có 02 gói nilon mầu trắng có chứa chất bột dạng nén, mầu trắng đục, nghi là Heroine.

D khai nhận tất cả số ma túy trên là của D. 02 gói nilon mầu trắng bên trong có chứa chất bột dạng nén mầu trắng là Heroine. Số Heroin này D mua của một người đàn ông nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ tại Khu vực mốc 66 bên phía Việt Nam (thuộc bản Đ, xã P, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên) với giá 1.000.000đ. Mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.

Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ 01 (Một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE mầu đỏ trắng; BKS 27V1-036.22; Số khung RLHJC 5210CY216807; Số máy: JC52E-4310448.h

Trong quá trình điều tra bị cáo Giàng A D thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

2. Các vấn đề khác:

Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 27/6/2018 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Pồ xác định: khối lượng 01 (gói) gói vật chứng thu giữ của Giàng A D nghi là Heroine có tổng khối lượng là 4,82g (Bốn phẩy tám mươi hai gam).

Tại bản kết luận giám định số 636/GĐ-PC54 ngày 07/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

01 (Một) Mẫu chất bột màu trắng được trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng A D gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

Khối lượng vật chứng thu giữ của Giàng A D là 4,82g Heroine.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên nêu trên.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản cáo trạng số 48/CT-VKSNP ngày 26/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Nậm Pồ để xét xử bị cáo Giàng A D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Xử phạt bị cáo Giàng A D từ 48 (Bốn mươi tám) tháng tù đến 54 (Năm mươi tư) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy:

4,82 gam heroin là vật chứng của vụ án (Đã trích 0,43gam làm mẫu vật gửi giám định còn lại 4,39 gam);

Tất cả đều được niêm phong trong 01(một) phong bì niêm phong của Công an huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

Miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố là đúng, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào Hồi 19 giờ 30 phút ngày 26/6/2018 tại bản Đ, xã P, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, Giàng A D đã có hành vi cất giấu trái phép 4,82gam Heroine. D khai nhận đó là Heroine, mục đích mua để sử dụng cho bản thân. Hành vi đó của Giàng A D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật cần phải xử lý nghiêm. Hành vi tàng trữ hai loại ma túy nêu trên của Giàng A D có đủ các yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điểm c khoản 1 Điều 249 quy định; thì: " Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam";

Do đó kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Giàng A D là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp; Phạm tội vì mục đích sử dụng cho nhu cầu của bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Vì vậy, khẳng định là: Bản cáo trạng số 48/CT-VKSNP ngày 26/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguyên nhân xuất phát từ động cơ, mục đích mua ma túy phục vụ nhu cầu bản thân. Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, từ nhỏ không được đi học ở nhà lao động sản xuất, năm 1986 di cư cùng gia đình về bản C, xã S, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên làm nương, năm 1996 lấy vợ. Năm 1997 cùng vợ và gia đình di cư lên Bản H, xã C, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Ngày 09/10/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Tháng 3 năm 2010 chấp hành xong hình phạt về cư trú tại Bản H, xã C, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên làm nương, đến ngày 26/6/2018 bị bắt phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo xuất thân trong gia đình lao động nhưng không chịu lao động, tu dưỡng bản thân mà nghiện ma túy. Bị cáo đã mua ma túy về tàng trữ sử dụng dần cho bản thân

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tại phiên toà bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây cũng là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác.

Bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Như vậy khẳng định bị cáo có nhân thân xấu.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý bị cáo thật nghiêm minh trước pháp luật, bằng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội đời thường một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo bản thân trở thành người có ích cho chính bị cáo và gia đình bị cáo.

Xét thấy khung hình phạt của đại diện Viện Kiểm Sát đề nghị tuyên phạt bị cáo từ 48 tháng đến 54 tháng tù không đảm bảo trong khung luật định với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, số lượng Heroin đã thu giữ, bản thân bị cáo là người có nhận thức được tác hại của ma túy lại có nhân thân xấu. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cao hơn đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát để tương xứng với hành vi phạm tội đồng thời để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có thể giúp bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 249/BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) về hình phạt bổ sung là phạt tiền, HĐXX xét thấy gia đình bị cáo sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn; Bị cáo là người dân tộc thiểu số; Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.

. Về vật chứng vụ án:

Đối với 4,82 gam heroine là vật chứng của vụ án (Đã trích 0,43gam làm mẫu vật gửi giám định còn lại 4,39 gam) là vật chứng của vụ án được niêm phong trong 01(một) phong bì niêm phong của Công an huyện Nậm Pồ cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Khoản 1; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

. Các vấn đề khác:

Bị cáo khai mua số ma túy trên của một người đàn ông nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đó ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Pồ không có cơ sở để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định. Viện kiểm sát không truy tố, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với chiếc xe máy BKS 27V1-036.22, trong quá trình điều tra xác định là xe của anh Giàng A C, trú tại: Bản H, xã C, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên cho D mượn xe, nhưng Câu không biết D mượn xe đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh C. Xét việc trả tài sản của Cơ quan điều tra Công an huyện Nậm Pồ là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về phần án phí: Tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX xét miễn án phí HSST cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, HĐXX xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn án phí HSST theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 BLTTHS năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Giàng A D phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2]. Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Giàng A D 58 (Năm mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (26/6/2018).

[3]. Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Khoản 1; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy 4,39 gam heroine là vật chứng còn lại của vụ án (Đã trích 0,43 gam làm mẫu vật gửi giám định) được niêm phong trong 01(một) phong bì niêm phong của Công an huyện Nậm Pồ (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/9/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên).

[4]. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo Giàng A D được miễn án phí HSST theo quy định.

[5]. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 BLTTHS năm 2015, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 05/11/2018./.

Cỡ chữ