- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!KINH!MÔN! TỈNH!HẢI!DƯƠNG! ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2018/HS-ST Ngày: 29/8/2018 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!KINH!MÔN,!TỈNH!HẢI!DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Chu Văn Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Quốc Huy
Bà Phạm Thị Chuộng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2018; Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa tại trụ sở để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
!NGUYỄN!VĂN!L, sinh năm 1960.
STQ: Thôn 3, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam
Trình độ văn hóa: 7/10. Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Bố: Nguyễn Văn T (đã chết). Mẹ: Lê Thị N, sinh năm 1931.
Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 4. Vợ: Trần Thị T, sinh năm 1981; có 2 con: Lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 118/HSST/1989 ngày 18/10/1989, Toà án nhân dân tỉnh Hải Hưng đã xử phạt Nguyễn Văn L 06 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2000; về thi hành án dân sự, xác minh tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương, Chi cục thi hành án dân sự huyện Kinh Môn, Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành đều xác định không tìm thấy hồ sơ, tài liệu liên quan đến thi hành án dân sự của Nguyễn Văn L.
Bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 22/4/2018 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Anh Sầm Hồng C, sinh năm 1996.
Địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt)
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 20/4/2018, Nguyễn Văn L đi bộ từ nhà ở của mình tại đội 8, thôn 3 xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương đến khu vực bến đò thuộc thôn 3, xã Hoành Sơn, huyện Kinh Môn với mục đích mua ma túy để sử dụng. Tại đây L mua của một thanh niên không quen biết 01 túi nilon trong có chứa chất ma túy với giá 300.000đồng, sau đó L cầm gói ma túy vừa mua được ở tay trái rồi đi bộ về nhà. Hổi 15 giờ 45 phút, khi L đi đến trước cửa hiệu cầm đồ Lê Duẩn thuộc thôn 3, v thì bị Công an kiểm tra, phát hiện trong bàn tay trái của L có 01 túi nilon bên trong có chứa chất rắn, dạng tinh thể màu trắng. Cơ quan Công an đã thu giữ và niêm phong trong bì thư ký hiệu M1.
Tại bản Kết luận giám định số 289/KLGĐ-PC54 ngày 23/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: “Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong niêm phong trong phong bì ký hiệu M1, ghi thu của Nguyễn Văn L gửi đến giám định có tổng khối lượng 0,920 gam là loại Methamphetamine”.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm 0,837 gam Methamphetamine được niêm phong số 289/KLGĐ-PC54.
Giai đoạn điều tra Nguyễn Văn L thừa nhận hành vi phạm tội.
Quá trình điều tra không xác định được căn cước, lý lịch của đối tượng bán chất ma tuý cho Nguyễn Văn L nên không có căn cứ để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 77/CT - VKSKM ngày 03/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
* Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; xem xét nhân thân cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt Nguyễn Văn L từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, 22/4/2018.
- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
+ Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy thu giữ trong vụ án được Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật trong niêm phong số 289/KLGĐ-PC54.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Kinh Môn; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát, những lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra và những người làm chứng; phù hợp khách quan với những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án như: Biên bản vụ việc; Biên bản niêm phong đồ vật; Kết luận của cơ quan giám định về số chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng đã thu giữ của Nguyễn Văn L gửi đến giám định có tổng khối lượng 0,920 gam là loại Methamphetamine.
Đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 15 giờ 45 phút ngày 20/4/2018, tại khu vực thôn 3, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương; Nguyễn Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,920 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, tiếp tay cho một tệ nạn xã hội nguy hiểm mà nhà nước và nhân dân ta đang tích cực đấu tranh, bài trừ. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 01 lần bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, nhưng không chịu tu dưỡng mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự bất chấp pháp luật. Do vậy cần xét xử vụ án nghiêm minh; áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo bị cáo, ổn định an ninh chính trị tại địa phương và góp phần trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong quần chúng nhân dân và mang tính răn đe, phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn nên được áp dụng tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[6] Xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ trong vụ án, Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật trong niêm phong số 289/KLGĐ-PC54 , đây là vật chứng của vụ án thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cho tịch thu, tiêu hủy.
[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;
Vì lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH!
- Căn cứ vào:
+ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Văn L 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, 22/4/2018.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
+ Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy thu giữ được Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật trong niêm phong số 289/KLGĐ-PC54.
(Số lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kinh Môn)
- Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm; có mặt bị cáo. Đã báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.
T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!tòa!
*!Nơi!nhận:!
- VKSND huyện Kinh Môn.
- Công an huyện Kinh Môn.
- Trại tạm giam Kim Chi - CA tỉnh Hải Dương.
- Chi cục THADS huyện Kinh Môn.
- Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo.
Chu Văn Nghĩa