vanban.org

Bản án 73/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội Tuyên án 10/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Danh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/5/2018. *Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Danh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73 /2018/HS-ST
Ngày 10 tháng 9 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sinh Thành.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Lưu.

2. Bà Nguyễn Thị Xuân Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Diệp - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Ngày 10 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Danh T, sinh ngày 25 tháng 11 năm: 1999 tại Hà Nội; nơi cư trú: thôn ĐN, xã AT, huyện HĐ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh D và bà Đỗ Thị X; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy đã 02 lần đi cai nghiện ma túy tự nguyện (Ngày 02/12/2015 cai nghiện tại Trung tâm chữa bệnh GDLĐXH số II đến ngày 16/01/2016; Ngày 21/12/2016 cai nghiện tại Trung tâm chữa bệnh GDLĐXH số II đến ngày 21/3/2017 ); Danh chỉ bản số: 188 ngày 14/5/2018 do Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội lập; bị bắt, tạm giữ, tạm giam: từ ngày 08/5/2018; bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Hoàng Phú N, sinh ngày: 24 tháng 11 năm 2001.

Người đại diện hợp pháp của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hoàng Phú Q, sinh năm: 1975; Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1976.

Cùng trú tại: thôn AH, xã AT, huyện HĐ, Tp Hà Nội.

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Anh Đào Quý T, sinh năm: 1982.

Nơi cư trú: thôn NC, xã AT, huyện HĐ, Tp Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 16 giờ 10 phút ngày 08/5/2018, Hoàng Phú N (Sinh ngày: 24/11/2001; HKTT: thôn AH, xã AT, huyện HĐ, thành phố Hà Nội) sử dụng điện thoại di động của N với số thuê bao 0167.475.7962 gọi điện thoại cho Nguyễn Danh T vào số thuê bao 0169.264.1969 (Lúc này, T đang ở tại khu vực LD, quận HĐ, Hà Nội, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 liên lạc với N) hỏi mua 01 (một) gói ma túy đá trị giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). N hẹn T địa điểm giao dịch tại Phòng 203, nhà nghỉ TP ở thôn AH, xã AT, huyện HĐ, Hà Nội. T đồng ý.

Sau đó, T đến khu vực gần đèn tín hiệu giao thông tại ngã tư đường LD, quận HĐ, Hà Nội mua của một người thanh niên không quen biết có đặc điểm khoảng 23-24 tuổi, cao khoảng 1,7m, da trắng, dáng người bình thường, mặc quần áo cộc màu đen 01 (một) túi nilon chứa ma túy đá với giá 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Sau khi mua được ma túy, T một mình đi xe ôm đến nhà nghỉ TP và lên thẳng phòng 203 gặp N. Tại đây, T bán cho Nghĩa 01 (một) gói nilon chứa ma túy đá với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). N cầm túi ma túy bên tay trái rồi đưa T 01 (một) tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng). T cầm tiền cất vào túi quần phía sau, bên trái đang mặc thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước khoảng 1,5x 0,1cm bên trong chứa tinh thể màu trắng từ trong lòng bàn tay trái của Hoàng Phú N được khai là ma túy đá vừa mua được của Nguyễn Danh T với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng);

- Thu giữ trong túi quần phía sau, bên trái T đang mặc số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), T khai nhận số tiền này là do N vừa trả cho T để mua 01 túi ma túy đá trên;

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei: 352431/05/781098/9, model: 1280 bên trong có chứa thẻ sim (đã qua sử dụng);

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone5, màu vàng, số I mei: 013989000428556, bên trong chứa thẻ sim (đã qua sử dụng).

Tại kết luận giám định số 4689/KLGĐ-PC54 ngày 17/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilong (thu giữ của Hoàng Phú N) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,012g (không phẩy không mười hai gam).

Đối với Hoàng Phú N, tại Cơ quan điều tra, N khai là đối tượng nghiện ma túy, mua ma túy của Nguyễn Danh T với mục đích sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời. Lời khai của N phù hợp với lời khai của Nguyễn Danh T về thời gian, địa điểm các đối tượng đã mua bán ma túy. Hoàng Phú N chưa bị kết án cũng như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi liên quan đến ma túy; trọng lượng ma túy Methamphetamine cơ quan Công an thu giữ của Nghĩa là 0,012g. Theo quy định tại Điểm e Mục 3.6 Khoản 3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP, hành vi của N chưa đến mức truy cứu Trách nhiệm hình sự nên ngày 11/7/2018, Công an huyện Hoài Đức đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Phú N về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ - CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự an toàn xã hội.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Danh T có đặc điểm khoảng 23- 24 tuổi, cao khoảng 1,7m, da trắng, dáng người bình thường, mặc quần áo cộc màu đen tại khu vực ven đường Lê Trọng Tấn, hướng đi Dương Nội, Hà Đông, Hà Nội vào ngày 08/5/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoài Đức đã điều tra xác minh nhưng không rõ tên, tuổi, địa chỉ do đó chưa xác định được là đối tượng nào nên không có cơ sở để xem xét, xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức, bị cáo Nguyễn Danh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ.

* Tại bản cáo trạng số: 74/CT-VKSHĐ-HN ngày 01/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Danh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

* Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự :

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Danh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh T từ 24 đến 30 tháng tù.

- Áp dụng các Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

+ Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng:

01 (một) phong bì niêm phong được dán kín của Công an thành phố Hà Nội.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với vật chứng:

Số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280.

+ Trả lại bị cáo Nguyễn Danh T vật chứng là 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone5.

* Lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Danh T bày tỏ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Ngày 08/5/2018, sau khi nhận được điện thoại hỏi mua ma túy đá từ Hoàng Phú N, Nguyễn Danh T đã mua 01 (một) gói ma túy chứa 0,012g Methamphetamine của một thanh niên không quen biết ở khu vực phường DN, quận HĐ, thành phố Hà Nội với giá 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng). Với mục đích thu lợi bất chính, T đã bán số ma túy trên cho Hoàng Phú N với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để thu tiền sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo là hành vi mua bán bất hợp pháp chất ma tuý, xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về việc quản lý chất ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội; bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Danh T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và Lời luận tội của viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Danh T cấu thành “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, khi mà tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của xã hội, bởi chất ma tuý là chất gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm, tạo lên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Tòa án xét xử nghiêm minh vụ án nhằm giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Danh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Danh T là đối tượng nghiện chất ma túy, đã 02 lần đi cai nghiện tự nguyện, nhưng không lấy đó làm bài học để cảnh tỉnh mà còn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho người khác, tiếp tục gieo rắc tệ nạn ma túy vào cộng đồng xã hội. Do đó, bị cáo không đủ điều kiện để được tự cải tạo ngoài môi trường xã hội bình thường, mà cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù là có căn cứ; Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn.

Bị cáo Nguyễn Danh T không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo việc thi hành án, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày (bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

- Đối với vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong của Công an thành phố Hà Nội, mặt trước phong bì niêm phong có ghi tên đối tượng Hoàng Phú N- Sinh năm 2001, HKTT: thôn AH, xã AT, huyện HĐ, thành phố Hà Nội, niêm phong ngày 08/5/2018. Mặt sau, tại các mép dán của gói niêm phong còn nguyên vẹn chữ ký, họ tên của giám định viên Vũ Việt C, cán bộ Hoàng Nhật H, đối tượng Nguyễn Danh T, đối tượng Hoàng Phú N và người giám hộ Hoàng Phú Q là vật cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ;

- Đối với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là số tiền do phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, vỏ máy in hình tờ tiền mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng), số Imei: 352431/05/781098/9, bên trong có chứa thẻ sim (đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện Nguyễn Danh T sử dụng liên lạc với Hoàng Phú N khi thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone5, màu vàng, số Imei: 013989000428556, bên trong chứa thẻ sim (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Danh T không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo;

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo Quyết định xử lý vật chứng số 50/QĐ-VKS ngày 01/8/2018, Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/8/2018 và Ủy nhiệm chi lập ngày 08/8/2018).

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Danh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/5/2018.

*Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng:

01 (một) phong bì niêm phong được dán kín của Công an thành phố Hà Nội. Mặt trước phong bì niêm phong có ghi tên đối tượng Hoàng Phú N- Sinh năm 2001, HKTT: thôn AH, xã AT, huyện HĐ, thành phố Hà Nội. Ngày niêm phong 08/5/2018. Mặt sau, tại các mép dán phong bì niêm phong còn nguyên vẹn chữ ký, họ tên của giám định viên Vũ Việt C, cán bộ Hoàng Nhật H, đối tượng Nguyễn Danh T, đối tượng Hoàng Phú N và người giám hộ Hoàng Phú Q.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với vật chứng:

+ Số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (hiện đang lưu giữ tại tại khoản: 3949.0. 1052752.00000 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tại Kho bạc Nhà nước huyện Hoài Đức theo “Ủy nhiêm chi” lập ngày 08/08/2018 của Công an huyện Hoài Đức).

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, vỏ máy in hình tờ tiền mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng), số Imei: 352431/05/781098/9, bên trong có chứa thẻ sim (đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện Nguyễn Danh T sử dụng liên lạc với Hoàng Phú N khi thực hiện hành vi phạm tội.

- Trả lại bị cáo Nguyễn Danh T đối với vật chứng:

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone5, màu vàng, số I mei: 013989000428556, bên trong chứa thẻ sim (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Danh T không liên quan đến việc phạm tội.

-[Số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) hiện đang lưu giữ tại tại khoản: 3949.0. 1052752.00000 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tại Kho bạc Nhà nước huyện Hoài Đức theo “Ủy nhiêm chi” lập ngày 08/08/2018 của Công an huyện Hoài Đức;

Các vật chứng còn lại hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo “Biên bản giao nhận vật chứng” ngày 03/8/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đức và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức].

* Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Buộc bị cáo Nguyễn Danh T phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các khoản 1, 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ