- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và Gia đình - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 73/2018/HNGĐ-ST Ngày: 15-3-2018 V/v tranh chấp về “Hôn nhân và Gia đình - Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Sức.
2. Ông Lê Văn Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện PT, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang tham gia
phiên tòa: Ông Lê Hữu Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện PT xét xử sơ thẩm
công khai vụ án thụ lý số 288/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2017 về
tranh chấp “Hôn nhân và gia đình – Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 21/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1996. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 08, ấp PV, TT. CV, huyện PT, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng T, sinh năm 1996. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp PX, TT. CV, huyện PT, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 05 tháng 9 năm 2017 nguyên đơn là chị Nguyễn
Thị Ngọc H trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu nhau về tình cảm, chị và anh T tiến tới hôn nhân vào
năm 2015, không tổ chức lễ cưới đến năm 2016 thì đăng ký kết hôn và được
UBND thị trấn CV cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 131 ngày 22 tháng 8 năm
2016. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2017 vợ
chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm, anh T không lo cho vợ con. Nhận thấy không thể nào chung sống được nữa nên chị bỏ đi và chính thức ly thân từ tháng 2 năm 2017 đến nay.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung là cháu
Nguyễn Đức H, sinh ngày 10/6/2016 do chị nuôi dưỡng từ khi vợ chồng ly thân đến nay.
- Về tài sản chung: không có.
- Về nợ chung: Không có.
Chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Được ly hôn với anh Nguyễn Hồng T.
- Về con chung: Được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày
10/6/2016, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Hồng T đã được Tòa án niêm yết Thông báo thụ lý vụ án nhưng
vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải đến lần thứ hai; triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh vẫn vắng mặt, không rõ lí do.
Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt do bận đi làm ăn xa.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 30/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện PT
đối với cha ruột của anh T là ông Nguyễn Hồng Phúc xác định khoảng năm 2015 anh T và chị H thành vợ chồng tuy không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống có hạnh phúc, đến khoảng tháng 9 năm 2016 thì T bắt đầu ăn chơi, hút chích Ma túy, không lo làm ăn, không lo gì cho vợ con từ đó vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đã ly thân khoảng 1 năm nay không nghe T nhắc gì tới vợ con và cũng không đến thăm nom, chăm sóc.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng như sau:
Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án cũng như ban hành văn bản tố tụng, cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng đúng quy định.
Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa anh T, chị H là hôn nhân hợp pháp, anh
chị đã chấm dứt quan hệ vợ chồng từ tháng 02 năm 2017 cho đến nay không quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên chị H yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Về con chung, từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 10/6/2016 do chị nuôi dưỡng có môi trường sống tốt, ổn định và chị cũng có đầy đủ điều kiện để tiếp tục nuôi dưỡng cháu nên cần chấp nhận yêu cầu được nuôi con của chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn
với anh T nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia
đình – ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh T với tư cách là bị đơn trong vụ kiện có nơi cư
trú tại ấp Phú Xương, thị trấn CV, huyện PT, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh An Giang.
Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại
phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của anh không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của
anh và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét
xử vắng mặt anh là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử
vắng mặt chị là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn vào năm 2015 tuy không tổ
chức lễ cưới nhưng đến năm 2016 anh chị đã đăng ký kết hôn và được Ủy ban
nhân dân thị trấn CV cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 131 ngày 22 tháng 8 năm
2016 nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly
thân từ tháng 02/2016, cho đến nay hai bên không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho
nhau nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn
nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích
của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị H yêu cầu được ly hôn với anh T là phù
hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩ
nên chấp nhận.
Về con chung: Chị H, anh T có một con chung là cháu Nguyễn Đức H, sinh
ngày 10/6/2016 đang do chị H nuôi dưỡng. Xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân cho
đến nay cháu H đã sống chung với chị H, dưới sự chăm sóc, giáo dục của chị, cháu
đang sinh sống ổn định và phát triển bình thường, chị H có đủ điều kiện để trực tiếp
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu nên yêu cầu được tiếp tục nuôi
cháu của chị là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nghĩ nên tiếp tục giao cháu H cho chị H nuôi dưỡng. Anh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không
xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có. [3] Về án phí: Yêu cầu ly hôn của chị H được chấp nhận nên chị phải chịu án phí dân sợ sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0016152 ngày 02/10/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện PT, tỉnh An Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4
Điều 147; khoản 1, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn
với anh Nguyễn Hồng T.
2. Về con chung: Chị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức H, sinh
ngày 10/6/2016. Chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Anh T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cấm. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sợ sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0016152 ngày 02/10/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện PT, tỉnh An Giang.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là
15 ngày kể từ ngày tuyên án, do các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên được tính
kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy tại điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Cơ quan Thi hành án huyện; - Các đương sự; - UBND thị trấn CV; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Nghĩa |