- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hì…"
- Tòa quyết gì? [1]Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2017/HSST. Ngày 26-9-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Duy Niên
2. Bà Nguyễn Thị Nhiễu
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2017/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2017/HSST-QĐ ngày 13/9/2017 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN Đ - sinh năm 1970
Nơi cư trú: Thôn 7, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.
Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: Lớp 7/12. Dân tộc: Kinh.
Con ông Nguyễn Khắc K, sinh năm 1936. Con bà Phạm Thị L, sinh năm 1936. Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1983; Có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
+ Từ năm 1988 đến năm 1991 thực hiện nghĩa vụ quân sự.
+ Quyết định số 125/QĐ - XPVPHC ngày 24/5/2009 của Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Văn Đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; hình thức xử phạt: Cảnh cáo.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/6/2017 đến ngày 06/7/2017 chuyển tạm giam.
(Có mặt)
Những ngƣời làm chứng:
- Anh Trần Nguyên S, sinh năm 1977
Nơi cư trú: Thôn S, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình
(Vắng mặt)
- Anh Trần Văn B, sinh năm 1971
Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 29/6/2017, tại khu vực cầu ông C, thuộc địa phận thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Vũ Thư phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn Đ cất giấu bên trong viền mũ vải đang đội trên đầu của bị cáo 01 gói nhỏ, bên ngoài được gói bằng giấy có chữ in, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục. Cơ quan Công an đã niêm phong hợp pháp vật chứng quản lý của bị cáo và trưng cầu giám định.
Tại bản kết luận giám định số 293/LKGĐ-PC54 ngày 30/6/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine (hêrôin), có trọng lượng 0,3231 gam (Không phẩy ba nghìn hai trăm ba mươi mốt gam). Heroin STT: 20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ” (Bút lục số 10).
Về nguồn gốc số ma túy đó, bị cáo khai bị cáo mua hồi 22 giờ cùng ngày 29/6/2017 của một người nam thanh niên khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ đứng ở khu vực cầu C, thuộc phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình, với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo đi về đến khu vực cầu ông C, thuộc địa phận thôn Đ, xã V, huyện V thì bị lực lượng Công an huyện Vũ Thư bắt qủa tang.
Ngoài ra Cơ quan Công an còn thu giữ và quản lý của bị cáo chiếc xe mô tô biển số đăng ký 36P1 – 9539 và 01 mũ vải dạng mũ lưỡi trai đã cũ.
Bản cáo trạng số 75/KSĐT ngày 01 tháng 9 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình luận tội, giữ nguyên truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Nguyễn Văn Đ mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số hêrôin quản lý của bị cáo và 01 mũ vải dạng mũ lưỡi trai đã cũ. Chấp nhận việc cơ quan điều tra tách ra xử lý sau đối với chiếc xe mô tô biển số đăng ký 36P1 – 9539. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư, Điều tra viên và của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, không khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo:
Cơ quan điều tra đã thu thập hợp pháp các tài liệu chứng cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư lập hồi 23 giờ 30 phút ngày 29/6/2017 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình (Bút lục từ số 01 đến số 04).
- Biên bản niêm phong vật chứng do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư lập hồi 00 giờ 50 phút ngày 30/6/2017 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình (Bút lục số 05).
- Bản Kết luận giám định số 293/LKGĐ-PC54 ngày 30/6/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (Bút lục số 10).
- Biên bản ghi lời khai của những người làm chứng: Anh Trần Nguyên S, sinh năm 1977, trú tại thôn S, xã V, huyện V; anh Trần Văn B, sinh năm 1971, trú tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình.(Bút lục từ số 64 đến số 71).
- Đồng thời trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp vật chứng vụ án đã được quản lý.
Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 29/6/2017, tại khu vực cầu ông C, thuộc địa phận thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Vũ Thư đã phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Đ có hành vi cất giấu bên trong viền mũ vải đang đội trên đầu của bị cáo 01 gói Hêrôin có trọng lượng 0,3231 gam Hêrôin, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Nguyễn Văn Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Vì vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước ta, đi ngược lại cuộc đấu tranh quyết liệt của Nhà nước và nhân dân ta, nhằm đẩy lùi, loại trừ tội phạm ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Ma túy là một vấn nạn của toàn cầu, gây ra những hậu họa khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ, kinh tế của bản thân người nghiện, là tác nhân lan truyền căn bệnh HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình trật tự trị an, kìm hãm sự phát triển của kinh tế - xã hội. Vì vậy ma túy đã gây ra những hoang mang lo ngại rất lớn trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã biết rõ tác hại của ma tuý; biết rõ pháp luật nghiêm cấm việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép ma túy, vì vậy đã phạm vào tội nghiêm trọng, cần phải xử lý nghiêm khắc.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo là người chưa có tiền án. Năm 2009, bị cáo bị Công an huyện Vũ Thư xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã được coi là không có tiền sự, tuy nhiên cũng cần đánh giá bị cáo là người có nhân thân không tốt.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Bị cáo đã có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự và đã hoàn thành nghĩa vụ. Vì vậy cần áp dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 “Tội tàng trữ tái phép chất ma túy” quy định mức hình phạt thấp hơn so với khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt:
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và buộc bị cáo phải cải tạo cách ly xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm lao động tự do, thu nhập thấp và không ổn định, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành, vì vậy cần áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số heroin đã được hoàn lại sau giám định và 01 mũ vải dạng mũ lưỡi trai đã cũ của bị cáo.
Chiếc xe mô tô biển số 36P1 – 9539 giấy đăng ký mang tên ông Lê Bá H, trú tại thôn 8, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo khai mua lại của anh Trần Duy H, sinh năm 1971, trú tại thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình vào tháng 10 năm 2016. Tài liệu điều tra xác định chiếc xe mô tô này nằm trong cơ sở dữ liệu xe mô tô bị trộm cắp do Công an thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa thông báo, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư tách ra để điều tra xử lý sau là đúng quy định pháp luật, cần chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1]Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
[2]Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/6/2017.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Xử tịch thu tiêu hủy 0,3056 gam Heroin được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 293/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và tịch thu tiêu hủy 01 mũ vải dạng mũ lưỡi trai đã cũ của bị cáo.
- Chấp nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư tách ra xử lý sau đối với chiếc xe mô tô đã quản lý của bị cáo có biển kiểm soát 36P1 – 9539 đăng ký mang tên ông Lê Bá H, trú tại thôn 8, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
[4] Về án phí: Áp dụng điều 98, 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/9/2017.
| Nơi nhận: - Công an huyện, VKSND huyện, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư; - Tòa án nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Bình |