vanban.org

Bản án 73/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 27/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Mông Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù giam, thời hạn tính từ ngày 10 tháng 9 năm 2017. Xử phạt bị cáo Chu Văn H 15 (mười lăm) tháng tù giam, thời hạn tính từ ngày 10 tháng 9 năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mông Văn Đ và Chu Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN VĂN LÃNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2017/HSST
Ngày: 27 - 11 - 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Máy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Tâm

2. Bà Lương Thị Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2017/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Mông Văn Đ; tên gọi khác: Không, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1992, tại Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; số CMND 082282708; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Nùng; con ông Mông Văn P và bà Hoàng Thị T; vợ: Mông Thị P, sinh năm 1993; con: Có 01 con sinh năm 2014; tiền sự: Không, tiền án: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/9/2017, tạm giam ngày 12/9/2017. Có mặt tại phiên tòa.

2. Chu Văn H; tên gọi khác: E, sinh ngày 11 tháng 01 năm 1983, tại Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; số CMND 082140802; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 1/12; dân tộc: Nùng; con ông Chu Văn S và bà Nông Thị E; vợ: Nông Thị L, sinh năm 1976; con: Có 01 con sinh năm 2005; tiền sự: Không, tiền án: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10/9/2017, tạm giam ngày 12/9/2017. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H: Bà Ngô Thị Thanh H là trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NHẬN THẤY

Các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10/9/2017, Tổ công tác Công an huyện V đang làm nhiệm vụ tại đường 230 xã H - T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, thuộc thôn K, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện Chu Văn H điều khiển xe mô tô chở Mông Văn Đ hướng T - H, Tổ công tác đã yêu cầu dừng xe kiểm tra giấy tờ, đồng thời Mông Văn Đ tự giác giao nộp cho Tổ công tác 01 túi nilon màu xanh và khai nhận trong túi có 03 gói ma túy, Trong đó của Mông Văn Đ 02 gói, mua với người đàn ông không biết tên ở xã T, huyện V với giá 2.400.000 (hai triệu bốn trăm nghìn) đồng, mục đích đem về sử dụng, còn 01 gói là của Chu Văn H. Tổ công tác tiếp tục làm rõ Chu Văn H khai nhận đúng là 01 gói ma túy nhỏ nhất là của Chu Văn H mua với người đàn ông không biết tên tại xã T, huyện V với giá 1.000.000 (một triệu) đồng. Sau khi mua được ma túy Chu Văn H nhờ Mông Văn Đ cầm hộ, để Chu Văn H điều khiển xe mô tô. Tổ công tác đã đưa Mông Văn Đ, Chu Văn H cùng tang vật đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 14 giờ 30 phút, ngày 10/9/2017.

Đồ vật tài sản tạm giữ gồm:

- Thu giữ của Mông Văn Đ: 02 túi nilon hình vuông màu xanh, bên trong đựng chất cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy, niêm phong trong một phong bì thư ghi chữ “QT Mông Văn Đ”; 01 điện thoại nhãn hiệu Land rover màu đen cũ, đã qua sử dụng có số Imel: 862199360100330; 01 xe mô tô nhãn hiệu HALIM biển kiểm soát 12F6-0193 màu nâu, cũ đã qua sử dụng.

Thu giữ của Chu Văn H: 01 gói nilon hình tròn màu xanh, bên trong chứa đựng chất cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy, niêm phong trong một phong bì thư ghi chữ “QT Chu Văn H”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Trung Quốc sản xuất màu vàng, ghi chữ Trung Quốc, số Imei1 có bốn số cuối 3573, số Imei2 có bốn số cuối 3581.

Tại bản kết luận giám định số 326/KL-PC54, ngày 12/9/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:

- Chất cục bột màu trắng có trong 02 gói nilon màu xanh, được niêm phong trong 01 phong bì thư ghi chữ “QT Mông Văn Đ” gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng trọng lượng 1,444 gam (đã trừ bì).

- Chất cục, bột màu trắng có trong 01 gói nilon màu xanh, được niêm phong trong 01 phong bì ghi chữ “QT Chu Văn H” gửi giám định là chất ma túy Heroine, có trọng lượng 0,592 gam (đã trừ bì).

Tại bản cáo trạng số 72/CT- VKS ngày 08/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H ra trước Tòa án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Vận dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 để áp dụng các nguyên tắc có lợi cho các bị cáo.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33, Điều 20, Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Mông Văn Đ mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam, bị cáo Chu Văn H mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù giam.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H vì các bị cáo không có tài sản gì, là người nghiện.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Trả lại cho bị cáo Mông Văn Đ 01 điện thoại nhãn hiệu Land rover màu đen cũ, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HALIM biển kiểm soát 12F6-0193 màu nâu, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Chu Văn H 01 điện thoại nhãn hiệu Trung Quốc màu vàng, đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì có chữ “QT Mông Văn Đ”; 01 phong bì có chữ “QT Chu Văn H”.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H khai nhận diễn biến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và các bị cáo đều có đơn xin miễn án phí hình sự.

Người bào chữa cho các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H tại phiên tòa, nhất trí với tội danh mà Viện Kiểm sát đã truy tố và đề nghị về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các bị cáo thành khẩn khai báo, chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị cáo H trình độ văn hóa thấp nhận thức pháp luật hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 hướng có lợi cho người phạm tội. Xử cho bị cáo Mông Văn Đ 18 tháng tù giam, bị cáo H 15 tháng tù giam.

Về hình phạt bổ sung: Do bản thân các bị cáo nghiện, hộ nghèo không có tài sản gì có giá tri, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn phần hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo, vì các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo và người bào chữa.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với bản kết luận giám định số 326/KL-PC54, ngày 12/9/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất cục bột màu trắng có trong 02 gói nilon màu xanh, được niêm phong trong 01 phong bì thư ghi chữ “QT Mông Văn Đ” gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng trọng lượng 1,444 gam (đã trừ bì); chất cục, bột màu trắng có trong 01 gói nilon màu xanh, được niêm phong trong 01 phong bì ghi chữ “QT Chu Văn H” gửi giám định là chất ma túy Heroine, có trọng lượng 0,592 gam (đã trừ bì). Vì vậy, cáo trạng số 72/CT- VKS ngày 08/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, khi xét xử các vụ án hình sự thuộc các trường hợp “ Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã được thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành được quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13. Tòa án vận dụng điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều luật theo luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật tổ chức Cơ quan Điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Cụ thể: Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định “Người nào tàng trữ vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm’’ còn theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c, Hêrôin... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Do vậy, khi điều tra, truy tố, xét xử phải áp dụng Điều luật có lợi cho các bị cáo.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hại đến trật tự, an ninh xã hội. Ma tuý là các hỗn hợp chất hoá học, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp nhân tạo, gây kích thích hoặc ức chế thần kinh. Khi ma tuý xâm nhập vào cơ thể, có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, khiến con người bị lệ thuộc vào nó. Ma tuý không chỉ huỷ hoại sức khoẻ mà còn làm suy thoái nòi giống, tàn phá phẩm giá và nhân cách của con người. Ma tuý cũng chính là tác nhân, có thể dẫn đến tình trạng lây nhiễm căn bệnh thế kỉ HIV/AIDS và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội trong tình hình hiện nay. Chính vì vậy đối với những hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý đều phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Các bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân con người cũng như những ảnh hưởng tiêu cực khác của ma túy đối với an ninh trật tự và mọi mặt của đời sống xã hội vì bản thân các bị cáo là nạn nhân của loại tệ nạn ma tuý này, nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện, mục đích tàng trữ ma túy là nhằm để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân.

Xét về vai trò của từng bị cáo: Các bị cáo thực hiện hành vi có đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Mông Văn Đ là người có phương tiện xe và mua số lượng ma túy nhiều hơn Chu Văn H, nên cần xử xử bị cáo Mông Văn Đ với mức hình phạt nặng hơn bị cáo Chu Văn H. Tuy vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:

Về nhân thân: Các bị cáo là người nghiện, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử, sau khi cân nhắc xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì xét thấy cần cách ly các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định, để các bị cáo có thời gian cải tạo, sửa chữa những lỗi lầm của mình và trở thành người có ích cho gia đình, cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...”, do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và thể hiện tại biên bản xác minh ngày 11/10/2017 đều cho thấy bản thân các bị cáo là người nghiện, không có tài sản gì, bị cáo Mông Văn Đ có 01 chiếc xe mô tô đang tạm giữ, nhưng đã cũ không giá trị lớn. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với người thanh niên khoảng 21 tuổi bán ma túy cho các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H, các bị cáo đều không biết tên địa chỉ cụ thể của người thanh niên đó, nên không có căn cứ xác minh làm rõ được.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Đối với 01 phong bì thư niêm phong ký hiệu bằng chữ viết tay “QT Mông Văn Đ” bên trong đựng ma túy, đã qua giám định; 01 phong bì thư niêm phong ký hiệu bằng chữ viết tay “QT Chu Văn H” bên trong đựng ma túy, đã qua giám định, xét thấy là vật cấm lưu hành. Tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Land rover màu đen cũ, đã qua sử dụng có số Imei có bốn số cuối 0330, thu giữ của bị cáo Mông Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Trung Quốc sản xuất màu vàng, số Imei1 có bốn số cuối 3573, số Imei2 có bốn số cuối 3581 thu giữ của Chu Văn H. Xét thấy, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Trả lại cho các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HALIM biển kiểm soát 12F6-0193 màu nâu, cũ đã qua sử dụng, là xe của bị cáo Mông Văn Đ mua để làm phương tiện phục vụ cho đi lại, nên trả cho bị cáo Mông Văn Đ.

Tại phiên toà hôm nay vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn; trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo và xử lý các tang vật của vụ án. Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định.

Các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

Vận dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 của Quốc Hội.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33, Điều 20, Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249, Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo.

Xử phạt bị cáo Mông Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù giam, thời hạn tính từ ngày 10 tháng 9 năm 2017.

Xử phạt bị cáo Chu Văn H 15 (mười lăm) tháng tù giam, thời hạn tính từ ngày 10 tháng 9 năm 2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì thư niêm phong ký hiệu bằng chữ viết tay “QT Mông Văn Đ” bên trong đựng ma túy, đã qua giám định; 01 phong bì thư niêm phong ký hiệu bằng chữ viết tay “QT Chu Văn H” bên trong đựng ma túy, đã qua giám định.

* Trả lại cho bị cáo Mông Văn Đ: 01 điện thoại nhãn hiệu Land rover màu đen, đã qua sử dụng có số Imei có bốn số cuối 0330, bên trong lắp kèm 01 sim Viettel và 01 xe mô tô nhãn hiệu HALIM biển kiểm soát 12F6-0193 màu nâu, cũ đã qua sử dụng.

* Trả lại cho bị cáo Chu Văn H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Trung Quốc sản xuất màu vàng, đã qua sử dụng, số Imei1 có bốn số cuối 3573, số Imei2 có bốn số cuối 3581, bên trong lắp kèm 01 sim Viettel.

(các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 11 năm 2017).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Mông Văn Đ, Chu Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ