- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy V, Châu Nhựt T, Phạm Phú K - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Duy V, Châu Nhựt T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2017/HS-ST Ngày 22-12-2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Minh Lý;
Ông Hồ Văn Khang.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Nghiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2017, tại Văn phòng ấp An Quới, xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2017/TLST-HS, ngày 30 tháng 11 năm 2017; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2017/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2017 đối với các bị cáo:
1. Phạm Duy V sinh năm 1987, tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 41/19/5A, khu phố A, phường TMT, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú hiện nay: Số 42/9A, ấp Đ, xã TTT, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; con ông Phạm Văn A và bà Phạm Thị Minh L; có vợ tên Lê Thị Ngọc C và 01 người con sinh năm 2010; tiền án: Ngày 28/6/2008, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Phạm Duy V 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/6/2013, nộp tiền phạt và tiền án phí vào ngày 15/11/2017, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 13/9/2017, tạm giam từ ngày 23/9/2017 đến nay, có mặt.
2. Châu Nhựt T, sinh năm 1975, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp HA, xã HT, huyện HT, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: Ấp HT, xã HT, huyện HT, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; con ông Châu Văn B (đã chết) và bà Phan Thị B; có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc D và 02 người con (lớn nhất sinh năm 2001 và nhỏ nhất sinh năm 2005); tiền án: Không, tiền sự: Tại Quyết định số 13/QĐ-XPVPHC ngày 13/01/2017 của Công an huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Châu Nhựt T số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc bằng máy trò chơi điện tử”; chưa nộp phạt; bị bắt tạm giữ ngày 13/9/2017, tạm giam từ ngày 22/9/2017 đến nay, có mặt.
3. Phạm Phú K, sinh năm 1982, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp HA, xã HT, huyện HT, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; con ông Phạm Phú T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 13/9/2017, tạm giam từ ngày 22/9/2017 đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lê Thị Ngọc C, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ 3, khu phố 1, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 00 giờ 45 phút ngày 13/9/2017, tại khu vực Trạm điện thuộc ấp Gia Huỳnh, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Công an tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Châu Nhựt T, Phạm Phú K đang tàng trữ trái phép chất ma túy; thu giữ 01 chai nhựa loại nước suối được cắt miệng bên trong có chứa nước và 01 gói nylon được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng trong túi quần phía bên trái của T, 02 viên thuốc dạng nén màu đỏ trên mặt có ghi chữ WY trong túi quần bên phải của T; 01 gói nylon được hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng trong túi quần phía trước bên trái của K; tiền Việt Nam 1.000.000 đồng và một số vật chứng khác.
Đến 16 giờ cùng ngày, Công an tỉnh Tây Ninh tiến hành bắt khẩn cấp Phạm Duy V tại nhà số 42/9A, ấp Đ, xã TTT, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh; thu giữ 01 bịch nylon bên trong có chứa tinh thể trắng ngà; 01 cốc thủy tinh màu trắng bên ngoài có quấn băng keo, bên trong có chứa tinh thể màu trắng ngà; tiền Việt Nam 45.450.000 đồng và một số vật chứng khác.
Quá trình điều tra, thể hiện: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 12/9/2017, Châu Nhựt T rủ Phạm Phú K hùn tiền để mua chất ma túy đá về sử dụng thì K đồng ý, K hùn 16.000.000 đồng, T hùn 6.000.000 đồng. Sau đó, T gọi điện cho Phạm Duy V hỏi mua chất ma túy thì V đồng ý bán, V hẹn T đi đến nơi V thuê ở trọ tại nhà số 42/9A, ấp Đ, xã TTT, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh, để giao nhận ma túy. T và K rủ Lê Văn T1 (bạn của T), Nguyễn Thị Ngọc B (bạn của K) cùng đi theo. Tất cả thuê xe Taxi “Sao Đỏ” biển số 51F-835.21 do tài xế Nguyễn Văn L điều khiển đi từ thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, đến nhà của V. Khi đến nhà V thì V cho T, K và T sử dụng chất ma túy trong nhà, còn Bích vẫn ngồi trong xe Taxi; sau khi sử dụng xong chất ma túy thì T đi ra xe taxi ngồi chờ cùng B; còn T và K tự mua bán chất ma túy với V nhưng không cho T1 và B biết. T, K đưa cho V số tiền 22.000.000 đồng thì V bán cho T, K 01 bịch chất ma túy đá, 05 ống thủy tinh, 02 viên thuốc dạng nén màu đỏ trên mặt có ghi chữ WY và 01 chai nhựa loại nước suối được cắt miệng, bên trong có nước đưa cho T và dặn khi nào gặp Công an kiểm tra thì đổ chất ma túy vào chai nước để không bị phát hiện. Sau đó, T, K lên xe Taxi cùng Tư và Bích đi về đến Trạm điện thuộc ấp Gia Huỳnh, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh thì bị bắt quả tang.
Qua làm việc, T và K đều khai nhận: Ngoài lần bị bắt quả tang, vào đầu tháng 8/2017, K hùn 10.000.000 đồng, T hùn 4.000.000 đồng, cả hai cùng rủ người tên Đỏ (không rõ địa chỉ) đi đến nhà V mua 01 bịch chất ma túy với số tiền 14.000.000 đồng. Tiếp tục vào ngày 02/9/2017, K hùn 11.500.000 đồng, T hùn 2.500.000 đồng, sau đó T kêu Đỏ cùng đi với K đến nhà V mua 01 bịch chất ma túy với số tiền 14.000.000 đồng. Sau mỗi lần mua được chất ma túy, T và K đem về chia ra từng phần ma túy tương ứng với số tiền của từng người đã hùn. Số ma túy của K được chia thì K để giành sử dụng. Còn số ma túy của T được chia thì T vừa sử dụng, vừa bán lại cho người khác để kiếm lời; cụ thể: Từ ngày 03/9/2017 đến ngày 11/9/2017, T đã bán cho Nguyễn Thanh P được 03 lần, Nguyễn Minh Th được 02 lần, Trần Thị Long G được 01 lần, Hoàng Văn T được 03 lần, Lê Văn T1 được 01 lần; mỗi lần bán được 01 bịch chất ma túy với số tiền từ 200.000 đồng đến 600.000 đồng.
Đối với Phạm Duy V khai nhận: Từ tháng 8/2017 đến ngày 12/9/2017, V mua chất ma túy của 01 người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực “Ngã 4 Bảy Hiền” thuộc quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, được 05 lần, mỗi lần mua với số tiền 20.000.000 đồng; sau đó V đem về nhà chia ra thành nhiều bịch và bán lại cho T và K được 03 lần, mỗi lần với số tiền từ 14.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng. Ngoài ra, V còn bán chất ma túy cho những người khác nhưng không rõ họ tên, địa chỉ.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của bị cáo Phạm Duy V:
- 01 túi nylon có một đầu kẹp bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng ngà (ký hiệu M6);
- 01 cốc thủy tinh màu trắng có quấn băng keo trong bên ngoài (ký hiệu M7);
- 01 cốc thủy tinh;
- 01 vỏ chai nhựa đã cắt mặt;
- 01 cái cân bằng thủy tinh và kim loại;
- 01 chai nhựa trên có gắn ống thủy tinh;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc, có ký hiệu Galaxy S7 edge.
- 01 xe mô tô hiệu Atila màu đỏ, biển số: 59E1-31435;
- 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy có số: 031141.
- Tiền mặt 45.450.000 đồng.
Thu giữ của Châu Nhựt T:
- 01 chai nhựa loại nước suối 1,25l được cắt miệng (ký hiệu M1);
- 01 gói nylon chứa chất màu trắng (ký hiệu M2);
- 01 bịch nylon màu trắng hàn kín ba mặt không có chất gì bên trong (ký hiệu M5);
- 02 viên thuốc dạng nén (ký hiệu M3);
- 01 điện thoại di động màu trắng đen hiệu HOTWAV;
- 05 ống thủy tinh.
- 01 lọ bằng nhựa có gắn ống thủy tinh;
Thu giữ của Phạm Phú K:
- 01 gói nylon màu trắng hàn kín (ký hiệu M4);
- 01 con dao;
- 01 điện thoại di động màu trắng hồng hiệu HUAWEI;
Tại Kết luận giám định số 178/MT-2017 ngày 23/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận:
- Chất lỏng không màu bên trong 01 chai nước suối cắt 1/2 có thể tích 500ml (thu giữ của T, K) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 23,7698 gam, hàm lượng 69,892% (ký hiệu M1).
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nylon màu trắng hàn kín (thu giữ của T) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 1,2476 gam (ký hiệu M2).
- 02 viên nén màu đỏ, bề mặt có chữ WY (thu giữ của T) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,2083 gam (ký hiệu M3).
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nylon màu trắng hàn kín (thu giữ của K) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 1,1724 gam (ký hiệu M4).
- 01 bịch nylon màu trắng hàn kín ba mặt (thu giữ của T, K) không có chứa bất cứ chất nào (ký hiệu M5).
- Tinh thể màu trắng ngà bên trong 01 túi nylon có một đầu kẹp (thu giữ của V) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 49,4840 gam (ký hiệu M6).
- Tinh thể màu trắng ngà bên trong 01 cốc thủy tinh màu trắng, bên ngoài có quấn băng keo (thu giữ của V) là chất ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 23,9540 gam (ký hiệu M7).
Qua xác minh, Châu Nhựt T, Phạm Phú K và Phạm Duy V không có tài sản nên không kê biên.
Đối với Lê Văn T1, Nguyễn Minh Th có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Công an huyện Trảng Bàng đã ra quyết định xử phạt hành vi phạm hành chính.
Đối với Nguyễn Thị Ngọc B, Lê Văn T1 và Nguyễn Văn L không biết T, K mua bán chất ma túy của V nên không đề cập xử lý. Riêng người tên “Đỏ” mà T, K khai có cùng đi mua chất ma túy, hiện không rõ địa chỉ và chưa làm việc được, Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Duy V, Châu Nhựt T, Phạm Phú K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Ngọc C khai nhận: Chị là vợ của bị cáo V. Đối với số tiền 16.700.000 mà cơ quan Công an thu giữ của bị cáo V là tiền của chị buôn bán vải vụn nên chị yêu cầu nhận lại số tiền này để nuôi con.
Bản Cáo trạng số 84/QĐ-KSĐT, ngày 29/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phạm Duy V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, m, p khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự; bị cáo Châu Nhựt T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Phú K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b, p, m khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự; điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Duy V mức án từ 11 đến 12 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Châu Nhựt T mức án từ 08 đến 09 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; Nghị quyết 41/2017/QH13 ngày 20/6/2017; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Phú K mức án từ 02 đến 03 năm tù
Do các bị cáo V, T không có tài sản, đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Duy V nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo. Thời gian bị tạm giam bị cáo rất hối hận, mong Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án nhẹ.
Bị cáo Châu Nhựt T nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, mong Hội đồng xét xử xử nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
Bị cáo Phạm Phú K nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, mong Hội đồng xét xử xử nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi của các bị cáo thấy rằng: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:
Từ tháng 8/2017 đến ngày 12/9/2017, Phạm Duy V có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Châu Nhựt T, Phạm Phú K được 03 lần, với tên gọi Methamphetamine có tổng trọng lượng 92,6794 gam; Châu Nhựt T có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thanh P, Nguyễn Minh Th, Trần Thị Long G, Hoàng Văn T, Lê Văn T1 được 10 lần, riêng lần bị bắt quả tang có chất ma túy với tên gọi Methamphetamine, có tổng trọng lượng 18,069 gam; Phạm Phú K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với tên gọi Methamphetamine, có tổng trọng lượng 17,9938 gam.
Xét thấy các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, nên có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo như sau: Các bị cáo Phạm Duy V, Châu Nhựt T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Phạm Phú K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về tình tiết định khung “Phạm tội nhiều lần”: Bị cáo Phạm Duy V khai nhận có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Châu Nhựt T, Phạm Phú K được 03 lần, đối với bị cáo Châu Nhựt T có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thanh P, Nguyễn Minh Th, Trần Thị Long G, Hoàng Văn T, Lê Văn T1 được 10 lần, do đó Viện kiểm sát truy tố là có cơ sở theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” đối với bị cáo V, xét thấy theo Bản án số 98/2008/HSST ngày 28/6/2008 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh: Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Phạm Duy V 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/6/2013, nộp tiền phạt và tiền án phí vào ngày 15/11/2017 nên chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung “Mua bán các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam” đối với bị cáo V, căn cứ vào Kết luận giám định số 178/MT-2017 ngày 23/9/2017, tổng trọng lượng bị cáo V bán cho bị cáo K và bị cáo T là 92,6794 gam chất ma túy tên gọi Methamphetamine nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tình tiết định khung quy định tại điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Trước khi phạm tội các bị cáo đã ý thức được rằng ma túy là chất kích thích có hại cho sức khỏe con người, khi sử dụng sẽ gây nghiện và làm suy thoái giống nòi. Từ việc sử dụng ma túy con người có thể thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác làm tổn hại cho đời sống xã hội. Tuy nhiên, xuất phát từ tính siêu lợi nhuận của việc mua bán trái phép chất ma túy, các bị cáo V và T đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật nhằm mục đích tư lợi cho cá nhân đồng thời gieo rắc tệ nạn cho xã hội, gây khó khăn cho công tác phòng chống ma túy của Nhà nước. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nghĩ nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét mức đề nghị xử phạt hình phạt của Viện kiểm sát là phù hợp. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, cụ thể:
Đối với bị cáo Phạm Duy V, Châu Nhựt T: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự thú những lần phạm tội trước đó là tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Tuy nhiên, xét nhân thân của bị cáo Châu Nhựt T không tốt, bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” dưới hình thức trò chơi điện tử, chưa nộp phạt, lại phạm tội nên cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo T.
Đối với bị cáo Phạm Phú K: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng về nhân thân bị cáo không tốt thể hiện bị cáo đã 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi tham gia “đá gà”. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra, bị cáo còn là bộ đội phục viên nên cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Mặt khác, khi so sánh khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 với khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999 quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có quy định mức hình phạt nhẹ hơn nên áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo theo Nghị quyết 41/2017/QH13 ngày 20/6/2017 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự, thấy rằng: Các bị cáo không có nghề nghiệp, qua xác minh các bị cáo không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với Lê Văn T1, Nguyễn Minh Th có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Công an huyện Trảng Bàng đã ra quyết định xử phạt hành vi phạm hành chính.
Đối với Nguyễn Thị Ngọc B, Lê Văn T1 và Nguyễn Văn L không biết T, K mua bán chất ma túy của V nên không đề cập xử lý. Riêng người tên “Đỏ” mà T, K khai có cùng đi mua chất ma túy, hiện không rõ địa chỉ và chưa làm việc được, Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Đối với 6 gói niêm phong ghi vụ số 178/1, 178/2, 178/3, 178/4, 178/6, 178/7 sau giám định bên trong còn lại lần lượt là 23,7698 gam, 1,2476 gam, 0,2083 gam, 1,1724 gam, 49,484gam, 23,9540 gam chất ma túy, tên gọi Methamphetamine thuộc Danh mục II của Nghị định số 82/NĐ-CP ngày 19/7/2013 nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với gói niêm phong ghi vụ số 178/5, không có bất cứ chất nào, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 cốc thủy tinh; 01 vỏ chai nhựa đã cắt mặt; 01 cái cân bằng thủy tinh và kim loại; 01 chai bằng nhựa trên có gắn ống thủy tinh; 05 ống thủy tinh; 01 lọ bằng nhựa có gắn ống thủy tinh; 01 con dao là công cụ phục vụ việc sử dụng, phân chia ma túy, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc, có ký hiệu Galaxy S7 edge; 01 điện thoại di động màu trắng đen hiệu HOTWAV; 01 điện thoại di động màu trắng hồng hiệu HUAWEI đã qua sử dụng, dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
(Tất cả vật chứng chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng đang quản
lý).
- Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu của bị cáo K, xét thấy không liên quan nên cần tuyên trả cho bị cáo.
- Đối với số tiền 45.450.000 đồng thu của bị cáo V. Trong đó, bị cáo V thừa nhận số tiền 28.750.000 đồng là tiền có được do bị cáo bán ma túy mà có nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước; còn số tiền 16.700.000 đồng là của chị Lê Thị Ngọc Cúc (vợ bị cáo) xét thấy không liên quan đến vụ án cần trả lại chị Cúc.
- 01 xe mô tô hiệu Atila màu đỏ, biển số: 59E1-31435, số máy: BBD-074959, số khung: HDCD-074959; 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy có số: 031141 cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Lê Thị Ngọc Cúc xong, nên không xử lý.
Về án phí: Áp dụng Điều 98, Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo V, T, K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Duy V, Châu Nhựt T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, p, m khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Duy V 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/9/2017.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Châu Nhựt T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/9/2017.
Tuyên bố bị cáo Phạm Phú K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH13 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Phạm Phú K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/9/2017.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo V, T.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 06 (sáu) gói niêm phong ghi vụ số 178/1, 178/2, 178/3, 178/4, 178/6, 178/7 sau giám định bên trong còn lại lần lượt là 23,7698 gam, 1,2476 gam, 0,2083 gam, 1,1724 gam, 49,484gam, 23,9540 gam chất ma túy, tên gọi Methamphetamine, gói niêm phong ghi vụ số 178/5, không có bất cứ chất nào; 01 (một) cốc thủy tinh; 01 (một) vỏ chai nhựa đã cắt mặt; 01 (một) cái cân bằng thủy tinh và kim loại; 01 (một) chai nhựa trên có gắn ống thủy tinh; 05 (năm) ống thủy tinh; 01 (một) lọ bằng nhựa có gắn ống thủy tinh; 01(một) con dao.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc, có ký hiệu Galaxy S7 edge; 01 điện thoại di động màu trắng đen hiệu HOTWAV; 01 điện thoại di động màu trắng hồng hiệu HUAWEI; tiền mặt 28.750.000 (hai mươi tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Tuyên trả lại bị cáo Phạm Phú K số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.
- Tuyên trả lại chị Lê Thị Ngọc C số tiền 16.700.000 (mười sáu triệu bảy trăm nghìn) đồng
4. Về án phí: Áp dụng Điều 98, Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo V, T, K, chị C được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Trảng Bàng; -Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; -Chi cục THADS huyện Trảng Bàng; -Cơ quan thi hành án hình sự; -Công an cấp xã nơi bị cáo cư trú; -Bị cáo; người TGTT khác; -Lưu hồ sơ; -Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm |