- Tranh chấp gì? án hình sự — "BUON BAN HANG CAM - không phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Tạ Thị Thúy Ph về tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 25 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 155 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2017/HSST Ngày 06-9-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tuyễn
2. Ông Đỗ Trường Tam
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Văn - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Danh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2017, tại Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2016/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2016 đối với bị cáo:
Tạ Thị Thúy Ph (Ph C); sinh năm: 1974, tại huyện GD, tỉnh TN; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Ô6/51 khu phố TB B, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh TN; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: làm mướn; con ông Tạ Hữu H (chết) và bà Dương Thị T (chết); chồng Đặng Thế M; có 02 người con lớn sinh năm 1992 nhỏ sinh năm 1995; tiền sự, tiền án: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15-10-2016 đến ngày 30-11-2016 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Vào ngày 25-10-2014 các bị cáo Trần Thị Minh Ph, Tạ Thị Mộng C, Tạ Thị Hồng Th và Tạ Thị Thúy Ph (Phg C) bàn bạc nhau mỗi người góp 10.000.000 đồng để mua thuốc lá ngoại nhập lậu vận chuyển đến Tp HCM bán kiếm lời. Thúy Ph có nhiệm vụ đến bờ đê biên giới giữa VN và Cpc thuộc địa phận huyện BC, tỉnh TN mua thuốc lá ngoại và canh đường từ bờ đê biên giới về xã AT, huyện BC; Minh Ph và Th có nhiệm vụ canh đường từ AT về đến nơi cất giấu; C thuê xe vận chuyển, tìm người để bán thuốc lá ngoại và canh đường từ nơi cất giấu đến Tp HC M bán; Minh Ph có nhiệm vụ canh đường tại Cầu GD thuộc Thị trấn GD và phụ chất thuốc lá lên xe ô tô; Th có nhiệm vụ canh đường tại đầu cầu GD và phụ nhận thuốc lá ngoại đem cất giấu; Nguyễn Tấn L là con của Th có nhiệm vụ vận chuyển thuốc lá ngoại từ bờ đê đến quán nước mía CX thuộc ấp TV 2, xã TP, huyện GD, được Th trả mỗi ngày 50.000 đồng; Tạ Quốc S là em ruột của Th nhận thuốc lá ngoại do L vận chuyển về giao để đem cất giấu và chất thuốc lá lên xe ô tô thì được Th trả mỗi ngày 100.000 đồng.
Khoảng 00 giờ 30 ngày 31-10-2014 Thúy Ph đến khu vực bờ đê biên giới (VN và Cpc) gặp T đặt mua 3.000 bao thuốc lá ngoại hiệu Hero và 500 bao thuốc lá ngoại hiệu EsseMethol, sau đó thuê Nguyễn Tấn L và Tạ Quốc S vận chuyển về quán CX thuộc xã TP, huyện GD cất giấu, khoảng 03 giờ cùng ngày C thuê xe ô tô biển số 51A-579.46 của anh H đến chất 14 bịch nylon màu đen bên trong chứa 3.500 bao thuốc lá ngoại lên xe thì bị Công an huyện GD bắt quả tang Minh Ph cùng vật chứng. Đối với các bị cáo Trần Thị Minh Ph, Nguyễn Tấn L, Tạ Quốc S, đã được xét xử xong. Đối với Tạ Thị Hồng Th và Tạ Thị Mộng C đã tru tố chờ xét xử. Riêng Thúy Ph bỏ trốn đến ngày 15-10-2016 bị bắt truy nã.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tạ Thị Thúy Ph đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 102/QĐ/KSĐT ngày 28-11-2016 của Viện kiểm sát nhân dân huyện GD đã truy tố bị cáo Tạ Thị Thúy Ph về tội “ Buôn bán hàng cấm” theo điểm a khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát cho rằng do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội của bị cáo không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 155, khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự, miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Tạ Thị Thúy Ph; bị cáo không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Vật chứng xử lý xong tại Bản án số: 35/2015/HSST ngày 23-4-2015 của Tòa án nhân dân huyện GD.
Bị cáo Tạ Thị Thúy Ph xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện GD trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Do không có tiền tiêu xài nên bị cáo Tạ Thị Thúy Ph cùng các bị cáo Trần Thị Minh Ph, Tạ Thị Mộng C và Tạ Thị Hồng Th đã bàn bạc nhau mỗi người góp 10.000.000 đồng để mua thuốc lá ngoại nhập lậu ở bờ đê biên giới giữa VN và Cpc thuộc huyện BC vận chuyển đến Tp HCM bán kiếm lời; đến khoảng 00 giờ 30 ngày 31-10-2014 các bị cáo đến khu vực bờ đê biên giới gặp T mua 3.000 bao thuốc lá ngoại hiệu Hero và 500 bao thuốc lá ngoại hiệu Esse Methol, sau đó thuê người vận chuyển về quán CX thuộc ấp TV, xã TP, huyện GD cất giấu, khoảng 03 giờ cùng ngày các bị cáo đưa 3.500 bao thuốc lá lên xe để vận chuyển đi Tp HCM tiêu thụ thì bị Công an huyện GD bắt quả tang. Hành vi của Trần Thị Minh Ph, Tạ Quốc S, Nguyễn Tấn L, Tạ Thị Mộng C và Tạ Thị Hồng Th đã được giải quyết xong.
Xét thấy: Kể từ ngày 01-7-2015 (ngày Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực thi hành) đến ngày 01-01-2018 (ngày Luật số: 12/2017/QH14 có hiệu lực thi hành), không xác định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm và không xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự số: 15/1999/QH10 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 1999).
Đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2015, nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử thì Tòa án phải mở phiên tòa và căn cứ vào Điều 25 của Bộ luật Hình sự năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Do đó, hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu trong nội địa của bị cáo Tạ Thị Thúy Ph xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2015, cho nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 25 của Bộ luật Hình sự năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Tạ Thị Thúy Ph.
Việc miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Tạ Thị Thúy Ph là do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội của bị cáo không còn nguy hiểm cho xã hội đến mức phải xử lý hình sự; bị cáo không có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Do bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự nên không phải chịu án phí theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 25; điểm a khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Hình sự năm 1999,
Tuyên bố: Miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Tạ Thị Thúy Ph về tội “Buôn bán hàng cấm”.
Vật chứng của vụ án được xử lý xong tại Bản án số: 35/2015/HSST ngày 23-4-2015 của Tòa án nhân dân huyện GD.
Án phí: Bị cáo Ph không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh TN.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND huyện GD; - Sở Tư pháp tỉnh nơi bị cáo ĐKNKTT; - Công an huyện GD (02 bản); - Công an xã, thị trấn nơi bị cáo cư trú; - CC.THADS huyện GD; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị An |