vanban.org

Bản án 73/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị P và anh Phạm Minh K.

Về nuôi con chung: Chị Lê Thị P được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 07/12/2016. Anh Phạm Minh K không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lê Thị P. Anh Phạm Minh K có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở quyền này. Về án phí: Chị Lê Thị P phải nộp 300.000đ ( ba tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị P và anh K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị P và anh Phạm Minh K.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2017/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 12 - 2017
V/v ly hôn giữa chị P và anh K

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hạnh. Bà Lưu Thị Nhàn. -Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng, Thư ký tòa án nhân dân huyện Nam Trực. Ngày 29 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2017/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2017 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2017/QĐXX- HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị P, sinh năm 1991 ( có mặt). Địa chỉ: Xóm V, xã L, huyện Y, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Phạm Minh K, sinh năm 1983 (vắng mặt). Địa chỉ: Xóm L, xã Q, huyện T, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 23 tháng 12 năm 2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Lê Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Minh K kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã Q vào tháng 01 năm 2014 trên cơ sở tự nguyện. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp hay cãi chửi nhau. Anh K sống không có trách nhiệm gì đối với gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2016 cho đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn anh K.

Về nuôi con chung: Chị và anh K có 01 con chung là cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 07/12/2016. Hiện nay chị đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Sau ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi cháu K và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Minh K là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Phạm Minh K.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị P và anh Phạm Minh K kết hôn có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2016, nguyên nhân là do giữa chị P và anh K bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp về tính cách và anh K sống thiếu trách nhiệm với gia đình. Chị P và anh K đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2016 cho đến nay. Thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị P là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị P và anh K có 01 con chung là cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 07/12/2016, hiện nay đang do chị P nuôi dưỡng. Sau ly hôn, con chung còn nhỏ, để đảm bảo quyền và lợi ích của con chung nên giao con chung cho chị P nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh K phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu, nên tòa án không đặt ra xem xét giải quyết. [4]Về án phí: Chị P phải nộp án phí ly hôn theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị P và anh Phạm Minh K.

2.Về nuôi con chung: Chị Lê Thị P được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Tuấn K, sinh ngày 07/12/2016. Anh Phạm Minh K không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lê Thị P. Anh Phạm Minh K có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở quyền này.

3.Về án phí: Chị Lê Thị P phải nộp 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị P đã nộp theo Biên lai số 0001897 ngày 26 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực.

4. Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Minh K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ