- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Trần Thị Bích N - Công ty TNHH QĐ"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Trần Thị Bích N và ông Phan Cao T về việc yêu cầu Công ty TNHH QĐ bồi thường số tiền 130.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2017/DS-ST Ngày: 17/8/2017 V/v “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Hổ
2. Ông Trần Văn Hưng
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Điệp – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2017/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2017/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: - Bà Trần Thị Bích N, sinh năm 1991
Địa chỉ: khu phố A, phường G, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
- Ông Phan Cao T, sinh năm 1989
Địa chỉ: khu phố A, phường G, thành phố BT, tỉnh Bến Tre
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đệ N, sinh năm 1962
Địa chỉ: khu phố E, phường PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
2. Bị đơn:
Công ty TNHH QĐ
Địa chỉ: Ấp AT, xã MTA, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Quốc Đ, sinh năm 1990 – Giám đốc. Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Võ Hồng H, sinh năm 1981
Địa chỉ: phường B, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/01/2017, bản tự khai, các biên bản hòa giải cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Bích N, ông Phan Cao T là ông Nguyễn Văn Đệ N trình bày:
Ngày 14/11/2016, bà N, ông T và Công ty TNHH QĐ đại diện là ông Đặng Quốc Đ có thỏa thuận dịch vụ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ lúc nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho đến khi hoàn tất thủ tục và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N và ông T, thời hạn là từ ngày 14/11/2016 đến ngày 25/11/2016 với số tiền là 13.000.000 đồng. Hai bên giao kết nếu không hoàn thành thì Công ty TNHH QĐ có trách nhiệm bồi thường. Hai bên ký kết hợp đồng tại trụ sở Công ty TNHH QĐ tại ấp AT, xã MTA, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, hiện hợp đồng do Công ty TNHH QĐ đang giữ.
Do không thực hiện đúng cam kết theo hợp đồng đã ký nên ngày 02/12/2016 ông Đ viết cam kết bồi thường cho bà N và ông T tổng số tiền là 130.000.000 đồng và hứa đến ngày 14/12/2016 sẽ hoàn trả toàn bộ. Đến hạn, bà N và ông T yêu cầu nhưng ông Đ né tránh. Do đó, nay bà N và ông T khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH QĐ có trách nhiệm bồi thường 130.000.000 đồng cho ông bà theo giấy bồi thường thiệt hại ngày 02/12/2016, không yêu cầu tính lãi.
Theo bản tự khai, các biên bản hòa giải cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty TNHH QĐ là ông Đặng Quốc Đ trình bày:
Ông thừa nhận ông và bà N, ông T có thỏa thuận dịch vụ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ lúc nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho đến khi hoàn tất thủ tục và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N và ông T, thời hạn là từ ngày 14/11/2016 đến ngày 25/11/2016, với số tiền là 13.000.000 đồng. Tuy nhiên, đây là việc riêng của ông, thông qua người trung gian là ông Võ Hồng H, không liên quan đến Công ty TNHH QĐ.
Đồng thời, hai bên không có ký bất kỳ hợp đồng nào mà chỉ thỏa thuận miệng. Bà N và ông T cho rằng hai bên có ký hợp đồng tại trụ sở Công ty TNHH QĐ tại địa chỉ ấp AT, xã MTA, thành phố BT, tỉnh Bến Tre là không đúng. Khi hai bên thỏa thuận dịch vụ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Công ty TNHH QĐ vẫn chưa về trụ sở tại ấp AT, xã MTA, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Ông cũng cho rằng ông không có nhận tiền từ bà N và ông T mà là do ông H nhận giao lại cho ông.
Đối với giấy bồi thường thiệt hại ngày 02/12/2016 mà bà N, và ông T cung cấp cho Tòa án, ông thừa nhận là do ông viết và ký tên nhưng lúc ông viết không tự nguyện, ông T ép buộc ông viết. Tuy nhiên, sau khi viết xong thì ông không có bất kỳ khiếu nại gì.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà N và ông T, Công ty TNHH QĐ không đồng ý bồi thường số tiền 130.000.000 đồng cho bà N và ông T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Hồng H đến để tiến hành hòa giải và đối chất nhưng ông H vẫn vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải và đối chất được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật thì những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định. Về nội dung: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo bà Trần Thị Bích N, ông Phan Cao T thì ngày 14/11/2016, ông bà và Công ty TNHH QĐ đại diện là ông Đặng Quốc Đ có thỏa thuận dịch vụ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Công ty TNHH QĐ cam kết nếu không hoàn thành thì sẽ bồi thường. Do không thực hiện đúng cam kết theo hợp đồng đã ký nên ngày 02/12/2016 ông Đ viết cam kết bồi thường cho ông bà tổng số tiền là 130.000.000 đồng và hứa đến ngày 14/12/2016 sẽ hoàn trả toàn bộ. Đến hạn, ông bà yêu cầu nhưng ông Đ né tránh. Do đó, nay ông bà khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH QĐ có trách nhiệm bồi thường 130.000.000 đồng cho ông bà theo giấy bồi thường thiệt hại ngày 02/12/2016, không yêu cầu tính lãi.
Xét tranh chấp giữa bà N, ông T và Công ty TNHH QĐ là tranh chấp hợp đồng dịch vụ, bị đơn là Công ty TNHH QĐ hiện có trụ sở tại thành phố BT nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo quy định tại Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Hồng H đến để tiến hành hòa giải và đối chất nhưng ông H vẫn vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải và đối chất được. Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông Hvẫn cố tình vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà N và ông T cho rằng có ký hợp đồng dịch vụ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với Công ty TNHH QĐ tại địa chỉ ấp AT, xã MTA, thành phố BT, tỉnh Bến Tre nhưng ông bà không cung cấp được hợp đồng, còn Công ty TNHH QĐ thì không thừa nhận có ký hợp đồng dịch vụ với bà N và ông T. Riêng ông Đ thừa nhận ông tự thỏa thuận với bà N và ông T làm dịch vụ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tư cách cá nhân, không phải nhân danh Công ty TNHH QĐ.
Bà N và ông T căn cứ vào giấy bồi thường thiệt hại mà ông bà đã cung cấp cho Tòa án để cho rằng giữa ông bà và Công ty TNHH QĐ có ký hợp đồng dịch vụ và Công ty TNHH QĐ cam kết bồi thường 130.000.000 đồng cho ông bà. Tuy nhiên, theo giấy bồi thường thiệt hại trên thì ông Đ viết với tư cách cá nhân, không phải nhân danh Công ty TNHH QĐ. Đồng thời, ông N là đại diện theo ủy quyền của bà N và ông T thừa nhận giấy bồi thường thiệt hại này được viết sau ngày 02/12/2016 sau khi bà N và ông T nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông Đ.
Như vậy, không có chứng cứ chứng minh giữa bà N, ông T và Công ty TNHH QĐ có ký kết hợp đồng dịch vụ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có chứng cứ chứng minh Công ty TNHH QĐ cam kết bồi thường cho bà N và ông T 130.000.000 đồng như bà N và ông T đã trình bày. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà N và ông T là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Bà N, ông T, ông Đ và ông H nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
Từ những nhận định trên, không đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N và ông T về việc yêu cầu Công ty TNHH QĐ bồi thường số tiền 130.000.000 đồng.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà N và ông T không được chấp nhận nên án phí dân sự có giá ngạch bà N và ông T phải chịu là 130.000.000 đồng x 5% = 6.500.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào các Điều 513, 519 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 26, 35, 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Trần Thị Bích N và ông Phan Cao T về việc yêu cầu Công ty TNHH QĐ bồi thường số tiền 130.000.000 (Một trăm ba mươi triệu) đồng.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 6.500.000 (Sáu triệu năm trăm ngàn) đồng bà Trần Thị Bích N và ông Phan Cao T phải nộp nhưng được khấu trừ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000477 ngày 10/01/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố bến Tre, tỉnh Bến Tre. Bà Trần Thị Bích N và ông Phan Cao T còn phải nộp tiếp án phí là 3.250.000 (Ba triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng.
Trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Riêng ông Võ Hồng H vắng mặt tại phiên tòa hôm nay được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - VKSND TP Bến Tre; - TAND tỉnh Bến Tre; - Chi cục THADS TP Bến Tre; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Xuân Triều |