vanban.org

Bản án 725/2022/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/12/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tòa án của nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính -…

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn-ông Nguyễn Văn N1; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm Số 440/2022/DS-ST ngày 21/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm"
  • Tòa quyết gì? Tòa án của nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính -…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 725/2022/DS - PT
Ngày: 02/12/2022
V/v “Tranh chấp bồi thường
thiệt hại do danh dự, nhân phẩm,
uy tín bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoa

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thị Hoàng Hoa

Bà Phạm Thị Thanh Trúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Quỳnh Trâm- Thư ký Tòa án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Hoàng

Thị Ngọc – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 02 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 342/2022/TLPT-

DS, ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do

danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 440/2022/DSST ngày 21 tháng 7 năm 2022

của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5267/2022/QĐPT-DS

ngày 20 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa Số 14746/2022/QĐ-

PT ngày 15/11/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N1; sinh năm: 1969; địa chỉ: 33/3T, ấp

H, xã B, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành N2; sinh năm: 1980; địa chỉ: 36/4, ấp H, xã

B, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.

3. Người kháng cáo: nguyên đơn - ông Nguyễn Văn N1; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn N1 và trong quá trình giải quyết

vụ án, nguyên đơn trình bày:

Từ ngày 23/7/2018 đến ngày 24/8/2018, ông N1 có đến cửa hàng vật liệu

xây dựng Phúc Lộc để mua hàng. Trong suốt thời gian này, ông N1 chỉ làm việc trực tiếp với ông Nguyễn Thành N2 về tất cả các vấn đề mua bán hàng hóa. Khi mua hàng, ông N2 đều lập phiếu mua hàng và ông N1 ký xác nhận, mỗi bên giữ 01 phiếu. Đến ngày 24/8/201, ông N2 tổng kết và gởi cho ông N1 01 phiếu; ông N1 kiểm tra thì phát hiện ông N2 ghi sai một số khoản mục như: loại hàng hóa, giá cả, tổng giá trị…Khi ông N1 đến gặp ông N2 để nói chuyện về vấn đề này thì ông N2 có thái độ xấc xược.

Ngày 10/9/2018, ông N2 đến nhà ông N1 lấy tiền, qua trao đổi thì ông N2

đã cho người kiểm tra và xác định là có ghi sai.

Ngày 22/9/2018, ông N1 đã thanh toán đầy đủ các khoản hàng hóa đã mua

theo thỏa thuận ban đầu.

Ngày 06/10/2018 và ngày 07/10/2018, ông N2 cho người lạ đến nhà ông

N1, la to yêu cầu ông N1 trả nợ theo phiếu ghi nợ mà người này cầm theo. Sau này, ông N1 mới biết là vợ của ông N2. Vợ của ông N2 nói rằng phiếu ghi nợ là do ông N1 ghi. Ông N1 đề nghị vợ ông N2 xem lại và đối chiếu với chữ viết của ông N1 nhưng vợ ông N2 vẫn khẳng định phiếu do ông N1 ghi và liên tục la to ông N1 mua hàng không trả tiền.

Hành vi của ông N2 là cố tình cho người đến nhà ông N1 nhằm xúc phạm

danh dự, nhân phẩm và uy tín của ông N1. Điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần và sự tự tin của ông N1. Đây là sự xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông N1 một cách nghiêm trọng vì được thực hiện liên tiếp trong hai ngày. Cho đến nay, ông N2 vẫn không có động thái nào để khắc phục hậu quả.

Vì vậy, ông N1 yêu cầu ông N2 phải công khai xin lỗi ông N1 tại khu dân

cư và trên báo Tuổi Trẻ (gồm báo giấy và báo điện tử) ba kỳ liên tiếp. Buộc ông N2 phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông N1 số tiền 44.200.000 (bốn mươi bốn triệu hai trăm nghìn) đồng theo luật định và 6.000.000 (sáu triệu) đồng tiền chi phí, công sức ông N1 bỏ ra để thực hiện vụ kiện.

Ngày 06/7/2022, ông N1 có đơn đề nghị thay đổi yêu cầu khởi kiện là

buộc ông N2 phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông N1 46.800.000 (bốn mươi sáu triệu tám trăm nghìn) đồng theo luật định (do nghị định 38/2022/NĐ-CP đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2022 có thay đổi về mức lương tối thiểu vùng) và 6.000.000 (sáu triệu) đồng tiền chi phí, công sức ông N1 bỏ ra để thực hiện vụ kiện.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Nguyễn Thành N2 trình

bày:

Tháng 6 năm 2019, ông Nguyễn Văn N1 có sửa chữa nhà nên ông N1 ra

cửa hàng vật liệu xây dựng Phúc Lộc do ông N2 làm chủ để mua vật liệu. Ông N1 mua hàng lẻ nên hàng ngày, hàng tuần ông N2 có cho người đem hóa đơn

vào cho ông N1. Ông N1 không thanh toán tiền mà nói lý do bận chưa xem hóa

đơn. Nhưng sau đó ông N1 vẫn không thanh toán, ông N2 phải vào nhà tìm ông

N1 chờ đợi rồi mới nhận được tiền của ông N1. Ông N1 vẫn không thanh toán

hết tiền với lý do chưa xem hóa đơn. Ngoài ra có nhiều vấn đề xảy ra khi mua

bán, ông N1 nói ông N2 ăn gian tiền mua bán nên không chịu thanh toán tiền. Vì

vậy, vợ ông N2 vào nhà ông N1 để đòi tiền nhưng ông N1 không hợp tác và cự

cãi với vợ ông N2. Giữa hai bên có nói qua lại nhưng ông N2 cũng không hiểu

lý do tại sao ông N1 đi kiện ông N2.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 440/2022/DSST ngày 21 tháng 7 năm 2022,

Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn quyết định:

- Căn cứ Khoản 6 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1

Điều 39, Khoản 1 điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015;

- Căn cứ Điều 584, Điều 592 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi bổ sung năm

2014;

- Căn cứ các Điều 8, 9, 10 và 27 cùng các danh mục mức án phí, lệ phí

Tòa án của nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về

mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và

Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao,

Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính - Hướng dẫn việc xét

xử và thi hành án dân sự;

Xử:

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N1 về việc

yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thành N2 phải công khai xin lỗi ông Nguyễn Văn

N1 tại khu dân cư và trên báo Tuổi Trẻ (gồm báo giấy và báo điện tử) ba kỳ liên

tiếp; buộc ông Nguyễn Thành N2 phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông

Nguyễn Văn N1 46.800.000 (bốn mươi sáu triệu tám trăm N1) đồng theo luật

định và 6.000.000 (sáu triệu) đồng tiền chi phí, công sức ông Nguyễn Văn N1

bỏ ra để thực hiện vụ kiện.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền

yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 17 tháng 8 năm 2022, nguyên đơn - ông Nguyễn Văn N1 kháng cáo

toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 440/2022/DSST ngày 21 tháng 7 năm 2022

của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị tòa phúc

thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn kháng cáo, không rút đơn khởi kiện. Các

đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác so với các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp tại cấp sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

* Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N1 trình bày: Ông N1 giữ nguyên trình

bày tại cấp sơ thẩm. Ông N1 yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý

kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở phúc thẩm như sau:

Về Đơn kháng cáo của nguyên đơn: Đơn kháng cáo trong hạn luật định

nên chấp nhận.

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn-ông Nguyễn

Văn N1 trong giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Tòa sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm Số 440/2022/DSST ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N1

trong hạn luật định nên được chấp nhận.

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và Quyết định đưa

vụ án ra xét xử cho bị đơn - ông Nguyễn Thành N2 để tham gia phiên tòa phúc thẩm vào các ngày 15/11/2022 và ngày 02/12/2022 nhưng ông N2 đều vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N1:

Ông Nguyễn Văn N1 kháng cáo yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Thành N2

phải công khai xin lỗi ông N1 tại khu dân cư và trên báo Tuổi Trẻ (gồm báo giấy và báo điện tử) ba kỳ liên tiếp. Buộc ông N2 phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông N1 46.800.000 (bốn mươi sáu triệu tám trăm N1) đồng theo luật định và 6.000.000 (sáu triệu) đồng tiền chi phí, công sức ông N1 bỏ ra để thực hiện vụ kiện.

Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách

nhiệm bồi thường thiệt hại như sau: “Người nào có hành vi xâm phạm tính

mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp

khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật

này quy định, luật khác có liên quan quy định khác”.

Nguyên đơn-ông Nguyên Văn N1 cho rằng hành vi của ông N2 là cố tình

cho người đến nhà ông N1 nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm và uy tín của

ông N1. Lời trình bày của ông N1 không được ông N2 thừa nhận. Ông N1 cũng

không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh ông N2 thực

hiện hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông N1. Ngoài ra, ông

N1 cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại cụ thể của

ông N1 do hành vi của ông N2 gây ra.

Ông N1 có nộp kèm đơn khởi kiện một USB ghi lại đoạn hội thoại có

tiếng cãi nhau giữa ông N1 và một phụ nữ (ông N1 cho rằng là vợ của ông N2).

Tại Tòa cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, ông N1 xác định chỉ khởi kiện

ông N2, yêu cầu ông N2 bồi thường danh dự, nhân phẩm bị xâm hại, không khởi

kiện vợ ông N2 nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét chứng cứ ông N2

cung cấp.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông N1 không cung

cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông N2 đã thực hiện hành vi xâm phạm

danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông N1, cũng như thiệt hại cụ thể của ông N1 do

hành vi của ông N2 gây ra. Do đó, Tòa cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu

khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Thành N2 phải công

khai xin lỗi ông N1 tại khu dân cư và trên báo Tuổi Trẻ (gồm báo giấy và báo

điện tử) ba kỳ liên tiếp. Buộc ông N2 phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho

ông N1 46.800.000 (bốn mươi sáu triệu tám trăm N1) đồng theo luật định và

6.000.000 (sáu triệu) đồng tiền chi phí, công sức ông N1 bỏ ra để thực hiện vụ

kiện là có căn cứ.

Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử

không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm

là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí

- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm

theo quy định của pháp luật.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn án phí dân sự phúc

thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 296, Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 584, Điều 592 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi bổ sung năm

2014;

- Căn cứ các Điều 8, 9, 10 và 27 cùng các danh mục mức án phí, lệ phí

Tòa án của nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính - Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn-ông Nguyễn Văn

N1; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm Số 440/2022/DS-ST ngày 21/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn

N1 về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thành N2 phải công khai xin lỗi ông Nguyễn Văn N1 tại khu dân cư và trên báo Tuổi Trẻ (gồm báo giấy và báo điện tử) ba kỳ liên tiếp; buộc ông Nguyễn Thành N2 phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông Nguyễn Văn N1 46.800.000 (bốn mươi sáu triệu tám trăm nghìn) đồng theo luật định và 6.000.000 (sáu triệu) đồng tiền chi phí, công sức ông Nguyễn Văn N1 bỏ ra để thực hiện vụ kiện.

2. Về án phí :

- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn N1 được miễn án phí dân sự

sơ thẩm.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N1 được miễn án phí dân

sự phúc thẩm.

3. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ