vanban.org

Bản án 72

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 13/07/2022 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V; giữ nguyên b n án sơ thẩm.

Tuyên b bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hồ Ngọc Tuấn V phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V; giữ nguyên b n án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
T A N NH N D N C NG H A X H CH NGH A V T NAM
T NH L M Đ NG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n án s : 72/2022/HS-PT
Ngày: 13-7-2022

NHÂN DANH

N C C NG H A X H CH NGH A V T NAM

T A N NH N D N T NH L M Đ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Duy Hoài

Các Thẩm phán:

Ông Dư Thành Trung

Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Qu c Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2022, tại Hội trường Tổ 6, Phường 2, thành ph B, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ L s 78/2022/TLST-HS ngày 13/5/2022 đ i với bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V; do có kháng cáo của bị cáo đ i với n án hình sự sơ thẩm s 11/2022/HS-ST ngày 21/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

* Bị cáo có kháng cáo.

Họ và tên: Hồ Ngọc Tuấn V; sinh năm: 1989 tại Thừa Thiên Huế; nơi ĐKHKTT: 90 đường H, phường 2, Tp. , tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: 44 đường T, xã Đ, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Nhân viên Ban qu n lý rừng phòng hộ B; trình độ học vấn: 12/12; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Hồ Ngọc K, sinh năm 1964; con bà Thái Thị L, sinh năm 1964; vợ: Lê Thị Hồng H, sinh năm 1990 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Trong vụ án còn có các bị cáo Tạ Văn H, Bùi Văn Th, Nguyên đơn dân sự Ban quản lý rừng phòng hộ B và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

N DUNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đầu năm 2018, Tạ Văn H thuê ùi Văn Th và các đ i tượng L, H1, H2, M (chưa xác minh được nhân thân, lai lịch) để khai thác gỗ trái phép tại tiểu khu 451 xã ’L; các tiểu khu 453, 454, 455 và 456 tại xã L, huyện B thuộc lâm phần do Ban qu n lý rừng phòng hộ B qu n lý b o vệ. Sau khi khai thác xong, H mang lâm s n bán cho một người tên H2 (chưa xác minh được nhân thân, lai lịch), s tiền bán lâm s n H tr tiền công cho Th và các đ i tượng cùng khai thác từ 300.000 đồng đến 700.000 đồng, s tiền còn lại H tiêu xài cá nhân.

Đến kho ng tháng 10/2020, Hồ Ngọc Tuấn V - là nhân viên Đội công tác b o vệ rừng s 6 thuộc Ban qu n lý rừng phòng hộ B đã bàn bạc với Tạ Văn H để khai thác gỗ trái phép tại xã L, xã ’L, huyện B. Hồ Ngọc Tuấn V sẽ nắm thông tin về lịch tuần tra của nhân viên b o vệ rừng để thông tin cho H; trước khi khai thác H ph i gọi cho V, nếu V đồng ý thì H tiến hành khai thác tại nơi đã thỏa thuận trước. Trong quá trình khai thác, V ở ngoài trạm qu n lý b o vệ rừng hoặc các khu vực đường đi vào rừng c nh giới, nếu có cơ quan chức năng kiểm tra, V sẽ thông tin cho H để dừng việc khai thác. Thực hiện thỏa thuận, H thuê L cùng khai thác gỗ tại tiểu khu 451 xã ’L, các tiểu khu 453, 454, 455 và 456 xã L, huyện B, sau đó tập kết đến vị trí bìa rừng. Tại đây H thuê ùi Văn Th, K’Th, K’ , K’L, K’L1, K’P, K’T, K’ r, K’Nh vận chuyển gỗ; V thuê xe của Lâm H2, Đỗ Đình Ph và một đ i tượng (chưa xác định được nhân thân lai lịch) chở gỗ đi bán cho Lương Văn M1 được 11.000.000 đồng, Phạm Ngọc T được 21.000.000 đồng cùng 02 bức tượng gỗ T đổi cho V thay tiền, bán cho Trương Hữu Th1 được s tiền 5.000.000 đồng. Một s gỗ sau khi khai thác H, V chở về nhà để sử dụng; H và V chở đến cho ông Nguyễn Văn V1 06 lóng gỗ Socola để tiện thành 06 bình bông, Tạ Văn H bán cho ông K’S một s gỗ để ông K’S làm cửa nhà với giá 10.000.000 đồng, s tiền có được từ việc bán gỗ, các bị cáo tiêu xài cá nhân hết.

Quá trình khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường khai thác gỗ trái phép là tiểu khu 451 thuộc xã ’L và các tiểu khu 453, 454, 455 và 456 thuộc xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng do Ban qu n lý rừng phòng hộ B qu n lý và b o vệ, hiện trạng rừng s n xuất là rừng tự nhiên và rừng phòng hộ là rừng tự nhiên. Tổng s lâm s n thiệt hại qua khám nghiệm là 50,703m3, lâm s n các đ i tượng thừa nhận khai thác là 43,756 m3, còn lại 6,947 m3 không xác định được đ i tượng khai thác. Trong s 43,756 m3 gỗ thừa nhận khai thác có 39,527 m3 gỗ thuộc rừng s n xuất là rừng tự nhiên, 4,229 m3 gỗ thuộc rừng phòng hộ là rừng tự nhiên, gồm:

- Tạ Văn H thuê người và trực tiếp tham gia khai thác 30 cây gỗ các loại, có tổng kh i lượng lâm s n thiệt hại là 41,136 m3 gỗ, trong đó 36,907 m3 gỗ thuộc rừng s n xuất là rừng tự nhiên; 4,229 m3 gỗ thuộc rừng phòng hộ là rừng tự nhiên.

- ùi Văn Th tham gia khai thác, vận chuyển 07 cây gỗ các loại và 04 hộp gỗ kiền kiền, có tổng kh i lượng lâm s n thiệt hại là 26,699 m3, trong đó khai thác 26,294 m3, vận chuyển 0,405 m3 gỗ thuộc rừng s n xuất là rừng tự nhiên.

- Hồ Ngọc Tuấn V đồng phạm cùng Tạ Văn H khai thác trái phép 15,438 m3 gỗ, trong đó 11,209 m3 thuộc rừng s n xuất là rừng tự nhiên, 4,229 m3 thuộc rừng phòng hộ là rừng tự nhiên.

Tại kết luận định giá tài s n s 61/KL-HĐĐGTS và 61.01/KL- HĐĐGTS ngày 01/6/2021 của HĐĐG tài s n t tụng hình sự huyện B kết luận:

- 20 cây gỗ các loại có kh i lượng 36,991 m3 các bị cáo thừa nhận khai thác tại hiện trường 1 có giá trị 101.992.296 đồng.

- 06 cây gỗ SP có kh i lượng 3,084m3 bị cáo Tạ Văn H thừa nhận khai thác tại hiện trường 2 có giá trị 2.939.270 đồng.

- Cây s 20 do ùi Văn Th và K’Th khai thác có kh i lượng 2,62 m3 có giá trị 5.659.335 đồng.

- 26,294 m3 gỗ ùi Văn Th tham gia khai thác có giá trị 72.081.809 đồng.

- 15 cây gỗ các loại Tạ Văn H cấu kết với Hồ Ngọc Tuấn V khai thác có kh i lượng 11,757m3 có giá trị 25.011.303 đồng.

Tại B n cáo trạng s 93/CT-VKS ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy t bị cáo Tạ Văn H, ùi Văn Th về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm b kho n 2 Điều 232 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo kho n 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự.

Tại B n án hình sự sơ thẩm s 11/2022/HS-ST ngày 21/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện B đã xử;

Tuyên b các bị cáo Tạ Văn H, ùi Văn Th, Hồ Ngọc Tuấn V phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”

* Áp dụng điểm b kho n 2 Điều 232; điểm b, s kho n 1 Điều 51; Điều 65 của ộ luật Hình sự (bị cáo Th áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự).

- Xử phạt bị cáo Tạ Văn H 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm tính từ ngày 21/01/2022. Áp dụng kho n 4 Điều 232 ộ luật hình sự, phạt bổ sung s tiền 20.000.000đ sung quỹ nhà nước.

- Xử phạt bị cáo ùi Văn Th 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày 21/01/2022.

* Áp dụng điểm b kho n 1 Điều 232; điểm b, i, s kho n 1 Điều 51; điểm c kho n 1 Điều 52; Điều 38 của ộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V 12 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Áp dụng kho n 4 Điều 232 ộ luật hình sự, phạt bổ sung s tiền 10.000.000đ sung quỹ nhà nước.

n án còn gi i quyết trách nhiệm dân sự, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/01/2022 bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung b n án sơ thẩm và khai nhận hành vi phạm tội như b n án sơ thẩm đã xét xử bị cáo, đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến: Đề nghị áp dụng điểm a kho n 1 Điều 355; Điều 356 của ộ luật T tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên b n án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH C A T A N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo và các chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Để có tiền tiêu xài cá nhân, từ đầu năm 2018 đến ngày 16/5/2021, bị cáo Tạ Văn H đã thuê bị cáo ùi Văn Th và các đ i tượng chưa xác minh được nhân thân, lai lịch để khai thác gỗ trái phép tại tiểu khu 451 xã ’L; các tiểu khu 453, 454, 455 và 456 tại xã L, huyện B với tổng kh i lượng lâm s n thiệt hại là 37,455 m3. ùi Văn Th đã giúp sức cho Tạ Văn H khai thác, vận chuyển và trực tiếp khai thác 01 cây gỗ với tổng kh i lượng lâm s n thiệt hại là 26,699m3. Tổng kh i lượng lâm s n các bị cáo gây thiệt hại là 40,075m3. Bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao là nhân viên Đội công tác b o vệ rừng s 6 thuộc Ban qu n lý rừng phòng hộ Đam ri cấu kết với H để khai thác 15 cây gỗ các loại, có kh i lượng 11,757m3 gây thiệt hại 25.011.303 đồng để bán thu lợi bất chính. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến tài nguyên rừng được Nhà nước b o vệ.

Đ i chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo, biên b n khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên b các bị cáo Tạ Văn H, ùi Văn Th phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm b kho n 2 Điều 232 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo kho n 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V: Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong thời hạn và đúng quy định nên được xem xét.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ rừng là tài nguyên Qu c gia, cá nhân, tổ chức ph i có trách nhiệm b o vệ, giữ gìn, nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi khai thác, hủy hoại rừng dưới bất cứ hình thức nào, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, bị cáo bất chấp các quy định của Nhà nước về qu n lý b o vệ rừng, bị cáo ngang nhiên khai thác thác rừng trái phép. Hành vi trên đã gây nh hưởng xấu đến công tác qu n lý tài nguyên rừng tại địa phương. n thân bị cáo V lợi dụng chức vụ quyền hạn được giao, chủ mưu, thông đồng với bị cáo H để khai thác lâm s n, làm nội ứng bên trong, thông tin lịch tuần tra của lực lượng b o vệ rừng, đồng thời c nh giới, thông báo cho bị cáo H biết khi nào thì được khai thác để tránh bị phát hiện, trực tiếp chở gỗ đi tiêu thụ nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” theo điểm c kho n 1 Điều 52 của ộ luật Hình sự; khi xét xử cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết gi m nhẹ bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn h i c i, tự nguyện khắc phục hậu qu , phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm b, i, s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án 12 tháng tù là phù hợp.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo và xuất trình tình tiết gi m nhẹ nào mới là nộp tiền phạt bổ sung, đây là tình tiết gi m nhẹ theo kho n 2 Điều 51 của ộ luật Hình sự; bị cáo cho rằng, b n thân là cháu rể của Bà mẹ Việt Nam anh hùng nhưng đây không ph i là tình tiết gi m nhẹ theo quy định của ộ luật Hình sự. Xét thấy, mức án cấp sơ thẩm đã tuyên tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, việc cho bị cáo hưởng án treo không đ m b o công tác giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên b n án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên toà là phù hợp.

[3] Về án phí: Bị cáo ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật T tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V; giữ nguyên b n án sơ thẩm.

Tuyên b bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

Áp dụng điểm b kho n 1 Điều 232; điểm b, i, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; điểm c kho n 1 Điều 52; Điều 38 của ộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Áp dụng kho n 4 Điều 232 ộ luật Hình sự, phạt bổ sung s tiền 10.000.000đ sung quỹ nhà nước (bị cáo đã nộp theo biên lai s 0001546 ngày 11/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B)

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 ộ luật t tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết s : 326/2016/U TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. uộc bị cáo Hồ Ngọc Tuấn V ph i chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ