vanban.org

Bản án 72

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn H - Mua bán trái phép chất ma túy - không phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NỸ ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 72/ 2023/HSST
Ngµy 12/ 9/ 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi H

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Mạnh Nhanh và ông Nguyễn Tiến Bộ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Quang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tuấn - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2023/TLST - HS ngày 28/8/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST - HS ngày 30/8/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1995, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn V, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị N; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2023. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1988.

Trú tại: Thôn T, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.

Anh C có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 24/5/2023 Nguyễn Văn H đang ở khu vực Núi Mối thuộc thôn B, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội thì có một người nam giới gọi điện thoại đến từ số thuê bao 0867075525 hỏi mua của H 01 chỉ ma túy “Ke” và 04 viên ma túy “Kẹo” với tổng số tiền là 3.900.000 đồng. H đồng ý và hẹn người đó đến khu vực cây xăng thuộc thôn Thượng, xã Hồng Sơn, huyện Mỹ Đức để giao ma túy và nhận tiền. H sử dụng máy điện thoại có số sim 0961615192 gọi đến số máy 0383370955 của một người nam giới (không rõ tên, tuổi) hỏi mua 01 chỉ ma túy “Ke” và 05 viên ma túy “Kẹo”, người này đồng ý bán số ma túy trên cho H với giá tiền 3.000.000 đồng và hẹn nhau tại khu vực cầu Chân Chim thuộc thôn C, xã P, huyện Mỹ Đức. Sau đó H gọi điện cho Nguyễn Đức Nghiêm và bảo Nghiêm điều khiển xe ô tô đến đón H đi có việc, do Nghiêm bận việc nên Nghiêm đã gọi điện cho Nguyễn Thành C đi đến Núi Mối, thuộc thôn B, xã H, huyện M để đón khách. C đồng ý và điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, BKS: 30E-561.66 đến đón H. Đến nơi H lên xe ngồi ở ghế phụ lái phía trước, H bảo C chở H đến khu vực cầu Chân Chim thuộc thôn C, xã P, huyện Mỹ Đức. Đến nơi H xuống xe, đi bộ về phía sau xe thì có 02 nam thanh niên điều khiển xe máy đến gặp H, người thanh niên ngồi sau xe máy đưa cho H 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa ma túy “Ke” và 01 gói bọc bằng giấy bên trong có 05 viên ma túy “Kẹo”, H đưa cho người thanh niên này số tiền 3.000.000 đồng và cất giấu ma túy vào trong túi quần bên phải đằng trước và bảo C chở về Núi Mối. Đến nơi H bảo C đợi ngoài xe còn H vào trong quán ăn ở Núi Mối lấy điện thoại gọi cho nam thanh niên mua ma túy. Tại quán ăn H lấy 01 viên ma túy “Kẹo” gói vào gói giấy rồi cất giấu trong túi quần bên phải đằng sau của H, còn 04 viên ma túy “Kẹo” và 01 túi nilon ma túy “Ke” H cầm ở tay phải và ra xe ngồi ở ghế phụ lái phía trước. H bảo C tiếp tục chở H đến cây xăng ở thôn Thượng, xã Hồng Sơn, huyện Mỹ Đức. Đến nơi H xuống xe mang ma túy đi bán cho khách thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.

Tại kết luận giám định số: 3449A/KL - KTHS ngày 02/6/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội đã kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,117gam.

- 04 viên nén màu xanh bên trong 01 gói giấy đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,345gam.

- 01 viên nén màu xanh bên trong 01 gói giấy là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,336gam.

Tại bản cáo trạng số 60/CT - VKS - MĐ ngày 24/8/2023 của VKSND huyện Mỹ Đức đã truy tố Nguyễn Văn H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của BLHS.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn H từ 02 năm đến 03 năm tù và không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì vật chứng có chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn H, giám định viên niêm phong và chữ ký của cán bộ niêm phong.

- Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh, số sêri 1: 351186125795098; số sêri 2: 351186125795106; số thuê bao: 0916615192.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu đen, số IMEI: 356725081187934, trong gắn sim số: 0329313133.

Ngoài ra còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đối với bị cáo; các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

Về nội dung vụ án: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản khám xét, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 24/5/2023, tại khu vực cây xăng thuộc thôn T, xã H, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn H đã bán 1,117gam Ketamine và 1,681gam MDMA cho một thanh niên, không rõ, tên, tuổi địa chỉ với tổng số tiền là 3.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương mà còn là nguyên nhân dẫn đến các vi phạm pháp luật khác, khiến dự luận bất bình lên án. Bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi bất chính, hơn nữa do tính chất nguy hại của loại tội phạm này, nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo khắc phục sai phạm, cũng như để răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mà áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Do bị cáo xuất thân từ nghề nông, không có nghề nghiệp và thu nhập có mức độ, không có điều kiện để thi hành, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo có số thuê bao 0383370955 là anh Phan Văn Đ, sinh năm 2000, địa chỉ: P, Bản L, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai là chủ thuê bao số 0383370955, quá trình điều tra anh Đức đã bỏ số này, không sử dụng, không có quan hệ gì với Nguyễn Văn H, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với người nam giới đã gọi điện mua ma túy của H có số thuê bao 0867075525 là anh Bùi Văn T, sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình là chủ thuê bao số 0867075525, quá trình điều tra anh T không đăng ký, không sử dụng số thuê bao này, không có quan hệ gì với Nguyễn Văn H, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với anh Nguyễn Thành C là người điều khiển chiếc xe ô tô nhãn hiệu Morning, BKS: 30E-561.66 chở H đi mua, bán ma túy. Anh C không được H trao đổi và không biết việc H đi mua, bán ma túy, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối anh H và đã trả chiếc xe ô tô này cho anh H, Viện kiểm sát không đề nghị, nên Tòa không xét.

Vật chứng của của án:

- Đối với: 01 phong bì vật chứng có chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn H, giám định viên niêm phong và chữ ký của cán bộ niêm phong, là tang vật của vụ án, nên tịch thu để tiêu hủy.

- Đối với:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh, số sêri 1: 351186125795098; số sêri 2: 351186125795106; số thuê bao: 0916615192 là công cụ liên quan đến tội phạm, hiện vẫn còn giá trị sử dụng, nên tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu đen, số IMEI: 356725081187934, trong gắn sim số: 0329313133, là của bị cáo không liên quan đến tội phạm, nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H.

Ngoài ra buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2023.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì vật chứng có chữ ký của đối tượng Nguyễn Văn H, giám định viên niêm phong và chữ ký của cán bộ niêm phong.

- Tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh, số sêri 1: 351186125795098; số sêri 2: 351186125795106; số thuê bao: 0916615192.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu đen, số IMEI: 356725081187934, trong gắn sim số: 0329313133.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức ngày 29/8/2023).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ