vanban.org

Bản án 72/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố: Bị cáo h m Văn T ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: Bị cáo h m Văn T 03 (Ba) năm 03 tháng tù.Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 26/12/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2026/HS-ST
Ngày: 26 - 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Nguyệt và bà Vũ Thị Hiên.

- Thư ký phiên toà: Ông h m Thành Trung - Th m tra viên Toà án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2026, t i trụ sở Toà án nhân khu vực 6 - Ninh Bình xét xử sơ th m công khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý số: 30/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2026 (Sau đây viết tắt là: 06/02/2026) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2026/QĐXXST-HS ngày 13/3/2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 2000 t i tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn , xã B, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông h m Văn B và bà Hoàng Thị H; có vợ là Bùi Thu C và có 01 con, sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không. bị cáo bị t m giữ từ ngày 26/12/2025 và chuyển t m giam từ ngày 04/01/2026 đến nay; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Không

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/12/2025, t i đo n đường bê tông thuộc thôn Q, xã B, tỉnh Ninh Bình, Tổ công tác Công an xã B đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát phát hiện h m Văn T đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, bắt quả tang T đang cất giữ trái phép trong túi quần phía trước bên phải đang mặc 01 túi nilon có kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu đỏ, không rõ hình d ng; T khai nhận số đây là ma túy d ng đá và 01 viên ma túy d ng “ngựa” vừa mua được để sử dụng; Tổ công tác đã lập biên bản bắt người ph m tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng nêu trên ký hiệu “QT”.

*Lực lượng Công an đã thu mẫu nước tiểu của h m Văn T niêm phong trong 01 chai nhựa ký hiệu NT.

* Khám xét kh n cấp nơi ở của h m Văn T: Không thu giữ được tài sản, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

* T i Kết luận giám định số 310/KL-KTHS ngày 31/12/2025 của Phòng K

- Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,096 gam, loại: Methamphetamine; Mẫu tinh thể trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,236 gam, loại: Methamphetamine” .

* T i kết luận giám định số 311/KL-KTHS KTHS ngày 31/12/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT (ghi thu của Phạm Văn T, sinh năm 2000, nơi cư trú: thôn P, xã B, tỉnh Ninh Bình) gửi giám định”.

* h m Văn T khai về nguồn gốc số Methamphetamine bị thu giữ: Khoảng hơn 13 giờ ngày 26/12/2025, h m Văn T đi bộ từ nhà ra đường, xin đi nhờ xe của một người không quen biết đến khu vực đường bờ đê sông S thuộc thôn Q, xã B, tỉnh Ninh Bình thì xuống xe, sau đó tiếp tục đi bộ khoảng hơn 100m đến khu vực ngã ba thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, dáng người thấp, gầy, đứng c nh xe máy; T hỏi mua 150.000 đồng ma túy đá và “ngựa”, người này đồng ý nên T lấy 150.000 đồng đưa và nhận 01 túi nilon có kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu đỏ, không rõ hình d ng; T biết là ma túy nên cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ quay về, khi đi được khoảng 200m thì bị lực lượng Công an kiểm tra, T tự giác khai nhận hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng.

* Về vật chứng: Số ma tuý do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1834/KL-KTHS, ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” là vật chứng của vụ án được chuyển đến hòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Ninh Bình.

Quá trình điều tra h m Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.

T i bản cáo tr ng số 106/CT-VKS-KV6 ngày 04/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đã truy tố h m Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - N: Giữ nguyên quan điểm một phần truy tố đối với bị cáo; rút một phần quyết định truy tố không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): p dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2026): Xử ph t h m Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng của vụ án hiện đang thu giữ.

- Bị cáo h m Văn T đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân vào chiều ngày 26/12/2025 đúng như nội dung bản cáo tr ng đã mô tả và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì. Bị cáo không có ý kiến gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có tiến hành tố tụng, các bản kết luận giám định, bản thân đã nhận thức rõ sai ph m, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng th m quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu n i gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đo n tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền h n và trách nhiệm được giao theo quy định.

T i phiên toà Đ i diện Viện kiểm sát rút một phần quyết định truy tố không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xác định rõ bị cáo ph m tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, bản thân không có thu nhập, không có tài sản riêng, nên đảm bảo căn cứ chấp nhận.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo t i phiên tòa phù hợp với diễn biến nội dung vụ án được chứng minh t i biên bản bắt người ph m tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định về ma túy, cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đo n điều tra, ngoài ra còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 26/12/2025, t i thôn Q, xã B, tỉnh Ninh Bình, h m Văn T có hành vi cất giữ trái phép 0,332 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của h m Văn T đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đối với bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đảm bảo căn cứ pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi ph m tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm ph m đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma tuý, làm mất an ninh trật tự t i địa phương, ảnh hưởng xấu tới kỷ cương pháp luật, chu n mực đ o đức; là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ n n xã hội, các lo i tội ph m khác, làm xã hội mất ổn định. Bị cáo là thanh niên có tuổi đời còn trẻ nhưng l i không chịu học tập, luôn thể hiện lối sống tự do, buông thả nên đã sa vào nghiện ngập ma túy, dẫn đến ph m tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh, áp dụng hình ph t tù, cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng cải t o, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như răn đe, phòng ngừa tội ph m chung trong xã hội, đặc biệt là tội ph m về ma tuý trong tình hình hiện nay

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như t i phiên tòa bị cáo đều thành kh n khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của bản thân, đồng thời thể hiện sự ăn năn hối cải trước pháp luật nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ cân nhắc để giảm nhẹ một phần hình ph t cho bị cáo, t o điều kiện cho bị cáo yên tâm cải t o, sớm tái hòa nhập cộng đồng, cũng như thấy được tính nhân đ o của pháp luật đối với người ph m tội.

Xét thấy cần tiếp tục t m giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án hình sự, nên Quyết định t m giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự .

Về hình phạt bổ sung: Xét mục đích ph m tội, cũng như tình hình kinh tế của bị cáo, nên không cần thiết phải áp dụng hình ph t bổ sung (là ph t tiền) đối với bị cáo theo quy định t i Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự như quan điểm của Đ i diện Viện kiểm sát t i phiên toà là phù hợp pháp luật.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Số Methamphetamine thu giữ của bị cáo cùng bao gói, Phòng K - Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định, đây là chất Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu huỷ.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma túy cho h m Văn T, do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Căn cứ vào nhân thân cũng như quy định của pháp luật, xác định h m Văn T không ph m tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Do đó, Công an xã B, tỉnh Ninh Bình đã xử ph t hành chính đối với T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính hủ là phù hợp pháp luật. Do đó, HĐXX không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1 p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tuyên bố: Bị cáo h m Văn T ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo h m Văn T 03 (Ba) năm 03 tháng tù.Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 26/12/2025.

2 p dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 310/KTHS, mặt trước phong bì có ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” của Phòng K - Công an tỉnh N.

(Vật chứng có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 05/02/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tình N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Ninh Bình).

3 Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo h m Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Về quyền kháng cáo: n xử công khai sơ th m, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ