vanban.org

Bản án 72/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 14/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Văn S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Võ Văn S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 thán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn S - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2026/HS-ST
Ngày 14-8-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kiều Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Kim Phượng

2. Ông Võ Minh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Liêu Thị Hương Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2026/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Văn S, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 09/02/1993 tại Cà Mau; nơi cư trú: Số G, Khóm B (nay là Khóm A), phường B, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Võ Văn G, sinh năm 1966 và bà Đinh Thị O, sinh năm 1968; có vợ Nguyễn Mỹ X (đã ly hôn); có con Võ An K, sinh năm 2019.

Tiền sự: Ngày 12/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau) ra Quyết định số 143/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng, chấp hành xong ngày 26/12/2024, chưa được xóa tiền sự.

Tiền án: Không.

Bị cáo bị khởi tố bị can ngày 22/4/2026, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn S là đối tượng nằm trong diện quản lý sau cai nghiện tại địa phương theo Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 02/01/2025 của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Cà Mau) với thời gian quản lý từ ngày 02/01/2025 đến ngày 02/01/2027 theo Luật phòng chống ma túy. Trong thời gian này, mặc dù được Ủy ban nhân dân phường quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện tái hòa nhập cộng đồng nhưng đến ngày 20/02/2026 để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, S đến khu vực trước tiệm N, Đường N, Khóm A, phường B, tỉnh Cà Mau gặp 01 người thanh niên (không rõ nhân thân) mua ma túy với số tiền 200.000 đồng rồi về nhà tại số G, Khóm B, phường B, tỉnh Cà Mau để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ ngày 24/02/2026, Công an phường B nghi vấn Sáng có sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành thu mẫu nước tiểu để xét nghiệm ma túy. Tại phiếu kết quả xét nghiệm ma túy ngày 24/02/2026 của Trung tâm y tế khu vực Bạc Liêu đối với Võ Văn S là dương tính Methamphetamine MET.

Công an phường B tiếp tục thu mẫu vật là nước tiểu của bị cáo S để tiến hành giám định. Tại Bản kết luận giám định số 170/KL-KTHS, ngày 07/3/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: “Tìm thấy chất Norketamine trong mẫu nước tiểu của Võ Văn S gửi giám định. Norketamine trong nước tiểu gửi giám định là chất chuyển hóa của Ketamine”.

Tại công văn số 75/CV-PC09 ngày 17/4/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh C xác định: “Không phải lúc nào kết quả test nhanh chất ma túy trong nước tiểu và kết quả giám định chất ma túy nước tiểu cũng trùng nhau là do que test nhanh hoạt động theo kiểu phản ứng nhanh nên có thể dương tính giả hoặc âm tính giả với chất ma túy, kết quả test nhanh chỉ mang tính định hướng, tham khảo chứ không sử dụng kết quả này để làm căn cứ xử lý”.

Về tang, vật chứng của vụ án: không thu giữ.

Tại Bản Cáo trạng số 41/CT-VKSKV14-HS, ngày 10 tháng 7 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau đã truy tố bị cáo Võ Văn S về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; xử phạt Võ Văn S từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Về án phí hình sự bị cáo S phải chịu theo quy định.

Bị cáo Võ Văn S giữ nguyên các lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Võ Văn S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với Bản kết luận giám định số 170/KL-KTHS, ngày 07/3/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh C; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Võ Văn S là đối tượng nằm trong diện quản lý sau cai nghiện tại địa phương theo Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 02/01/2025 của Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Cà Mau) với thời gian quản lý từ ngày 02/01/2025 đến ngày 02/01/2027 theo Luật phòng chống ma túy. Nhưng đến ngày 20/02/2026 bị cáo tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại số G, Khóm B, phường B, tỉnh Cà Mau. Tại Bản kết luận giám định số 170/KL-KTHS, ngày 07/3/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: “Tìm thấy chất Norketamine trong mẫu nước tiểu của Võ Văn S gửi giám định. Norketamine trong nước tiểu gửi giám định là chất chuyển hóa của Ketamine”.

Xét thấy, bị cáo là người đã trưởng thành nên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết các chất ma túy đều tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người sử dụng, các chất ma tuý đều gây ảo giác và mất nhận thức đối với con người nên Nhà nước kiểm soát và độc quyền quản lý nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu sử dụng của mình nên đã cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện nhưng không tu dưỡng bản thân mà tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên hành vi nêu trên của bị cáo S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cà Mau truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, đã góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, băng hoại đạo đức lối sống và làm phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi này còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho gia đình và cộng đồng dân cư nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục và cải tạo bị cáo, đồng thời để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025. Từ những nội dung trên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo.

Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Võ Văn S do không xác định được nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C không làm việc được.

Về án phí: Bị cáo Võ Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt bị cáo Võ Văn S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Văn S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bản án hinh sự sơ thẩm bi ̣ cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo

̀ trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ