- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Chí T phạm tội đánh bạc - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Ngô Chí T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2026/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự và giảm hình phạt tù; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2026/HS-PT Ngày 29 tháng 5 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và ông Nguyễn Xuân Trọng
Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lụa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2026/TLPT-HS ngày 20 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo Ngô Chí T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2026/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ.
Bị cáo có kháng cáo:
Ngô Chí T, sinh năm 1979 tại Phú Thọ; trú tại: Thôn T, xã Hội Thịnh, tỉnh Phú Thọ; số CCCD: 026079001069; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Tiến H và bà Nguyễn Thị H1 và vợ Nguyễn Thị L và 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; bị cáo tại ngoại,“có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra nhận được tin báo về việc Ngô Chí T có tham gia hoạt động đánh bạc trực tuyến trên các ứng dụng đánh bạc nên tiến hành xác minh và triệu tập T để rõ nguồn tin trên. Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận đã sử dụng chiếc điện thoại di động của T nhãn hiệu Apple, loại Iphone XS bên trong lắp 01 thẻ sim điện thoại mang số thuê bao 0978.676.578 để đánh bạc trái phép trên mạng vào ngày 14/10/2024. Cơ quan điều tra đã lập biên bản sự việc, tạm giữ chiếc điện thoại nêu trên.
Quá trình điều tra đã xác định, qua tìm hiểu trên mạng internet, T biết trang mạng “KUBET” có hoạt động đánh bạc trực tuyến, nên ngày 14/10/2024, T sử dụng chiếc điện thoại di động Iphone XS truy cập vào trang mạng Kubet qua đường link để lập tài khoản và tham gia đánh bạc được thua bằng tiền trên không gian mạng. T lập 01 tài khoản đánh bạc có tên đăng nhập là “SX789”, mật khẩu đăng nhập “Tl6868” và liên kết với tài khoản Ngân hàng số 0978.676.578 mở tại Ngân hàng TMCP Q (MB) của T để thực hiện việc nạp tiền, rút tiền trong quá trình tham gia đánh bạc. Cùng ngày, T bắt đầu sử dụng tài khoản Ngân hàng nêu trên để nạp tiền vào tài khoản đánh bạc và tham gia đánh bạc liên tục được thua bằng tiền trong ngày 14/10/2024 dưới hình thức chơi xổ số.
Về hình thức chơi xổ số “27 Lô Ku” trên trang KUBET như sau: Trên trang này quay thưởng xổ số có 3 loại là: “27 lô - 01 phút” tức là 01 phút mở thưởng một lần, “27 lô - 1,5 phút” tức là 1,5 phút mở thưởng một lần và “27 lô - 03 phút” tức là 03 phút mở thưởng một lần. Kết quả mỗi lần mở thưởng thì trang mạng sẽ cho kết quả giống kết quả xổ số kiến thiết miền B hàng ngày. Nếu mua số lô thì kết quả dựa vào 02 số cuối của tất cả các giải, còn nếu mua số đề thi kết quả dựa vào 02 số cuối của giải đặc biệt. Nếu thua thì mất hết số tiền đặt cược, thắng thì chỉ được ăn 98% số tiền đặt cược.
Các giao dịch nạp tiền và rút tiền trong quá trình đánh bạc của T cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Hồi 00 giờ 40 phút 17 giây ngày 14/10/2024, T sử dụng tài khoản Ngân hàng của T chuyển khoản số tiền 1.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng số 8812.877.899 mở tại Ngân hàng TMCP Đ (B) của Lê Ngọc P, sinh năm 1995, trú tại ấp B, xã P, tỉnh Tây Ninh có trên ứng dụng đánh bạc thì tài khoản đánh bạc của T được cộng 1000 điểm (mỗi điểm tương ứng với số tiền 1.000 đồng). T bắt đầu đánh bạc bằng hình thức chơi xổ số “27 Lô Ku” trên tài khoản đánh bạc đã lập. T đánh bạc đến khoảng 01 giờ 15 phút cùng ngày thì thua hết số tiền đã nạp trên và tài khoản đánh bạc còn 00 điểm.
Lần thứ hai: Hồi 01 giờ 16 phút 42 giây ngày 14/10/2024, T sử dụng tài khoản Ngân hàng chuyển khoản số tiền 1.000.000 đồng đến tài khoản số 239.053.979 mở tại Ngân hàng TMCP Q (MB) của Trần Thị Thanh N, sinh năm 1995, trú tại phường P, thành phố Hồ Chí Minh có trên ứng dụng đánh bạc thì tài khoản đánh bạc của T được cộng 1000 điểm. T bắt đầu đánh bạc bằng hình thức chơi xổ số “27 Lô Ku” trên tài khoản đánh bạc đã lập. T đánh bạc đến 02 giờ 00 phút 49 giây cùng ngày thì thắng bạc, trong tài khoản đánh bạc của T có 10.000 điểm tương ứng với số tiền 10.000.000 đồng nên T thực hiện lệnh rút số tiền 10.000.000 đồng về tài khoản Ngân hàng của T nên được tài khoản số 349.103.415 mở tại Ngân hàng Q1 (VIB) của Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995, trú tại xã B, thành phố Hồ Chí Minh có trên ứng dụng đánh bạc chuyển số tiền 10.000.000 đồng vào tài khoản của T. Sau đó, T không tham gia đánh bạc nữa.
Như vậy, trong ngày 14/10/2024, T đã nạp thành công vào tài khoản đánh bạc của mình 02 lần với tổng số tiền là 2.000.000 đồng và 01 lần rút tiền thành công từ tài khoản đánh bạc của T về tài khoản Ngân hàng mà T dùng liên kết với tài khoản đánh bạc với tổng số tiền rút được là 10.000.000 đồng nên xác định tổng số tiền đánh bạc trái phép của T trong ngày là 12.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 1009/KL-KTHS ngày 31/7/2025 của Phòng K - Công an tỉnh P, theo đó kết luận: Không truy cập được vào các trang web có địa chỉ
"https://165.22.249.180",
"y6559cc6.net", "vb5665v.net","6u6bcyvx.net","cuvncf.qiabbkj.com", "cuvncw.yuehanzkj.com"; do vậy không đăng nhập được tài khoản có tên đăng nhập "XS789", mật khẩu "Tl6868" để trích xuất dữ liệu theo yêu cầu giám định.
Tại văn bản số 2612/PTTH&TTĐT ngày 23/12/2024 của Cục P1, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ T2 có nội dung không thẩm định, cấp bất cứ giấy phép hoạt động nào cho các phần mềm, ứng dụng liên quan đến website “”, “y6559cc6.net”, “vb5665v.net”,“6u6bcyvx.net”,“cuvncf.qiabbkj.com”,“cuvncw.yuehanzkj.com” nên không có các thông tin liên quan đến tên miền nêu trên.
Tại văn bản ngày 25/12/2024 của Sở Thông tin và truyền thông tỉnh V có nội dung không thể xác minh các thông tin về: cá nhân, tổ chức quản lý trang mạng; địa chỉ IP máy chủ; nội dung, phương thức hoạt động; giấy phép của các trang mạng (các nội dung được xác định tại thời điểm 10h49’ ngày 23/12/2024, sau thời gian này nội dung thông tin có thể thay đổi).
Tại văn bản ngày 07/01/2025 của Trung tâm I (VNNIC) - Bộ T2 có nội dung: Trang web: "y6559cc6.net” hoạt động dưới tên miền quốc tế y6559cc6.net; "vb5665v.net” hoạt động dưới tên miền quốc tế vb5665v.net; "6u6bcyvx.net" hoạt động dưới tên miền quốc tế 6u6bcyvx.net dưới đuôi .net do Tổ chức quốc tế V cấp và quản lý; "cuvncf.qiabbkj.com” hoạt động dưới tên miền quốc tế cuvncf.qiabbkj.com- tên miền cấp dưới của tên miền qiabbkj.com; "cuvncw.yuehanzkj.com” hoạt động dưới tên miền quốc tế cuvncw.yuehanzkj.com – tên miền cấp dưới của tên miền yuehanzkj.com dưới đuôi .com do Tổ chức quốc tế - V cấp và quản lý tên miền trên đăng ký trực tiếp với tổ chức quốc tế ở nước ngoài và do tổ chức quốc tế quản lý và lưu trữ thông tin dữ liệu tên miền do đó VNNIC không có thông tin để cung cấp. Địa chỉ IP của website là do chủ thể tên miền và chủ thể website, đơn vị cung cấp dịch vụ hosting chủ động tự khai báo sử dụng, do vậy có thể thay đổi theo thời điểm tra cứu… Trang web: "https://165.22.249.180" hoạt động dưới địa chỉ I. Địa chỉ IP 165.22.249.180 là địa chỉ IP quốc tế, không thuộc quản lý của Việt Nam nên việc xác minh sử dụng địa chỉ IP phụ thuộc vào dữ liệu lưu trữ của doanh nghiệp N1; do đó, VNNIC không có thông tin để cung cấp. VNNIC là cơ quan có chức năng quản lý, cấp, phân bổ tài nguyên I1 (tên miền, địa chỉ IP/ASN Việt Nam). Các nội dung, thông tin khác không thuộc lĩnh vực chuyên môn do VNNIC phụ trách.
Tại văn bản ngày 19/12/2024 của Ngân hàng TMCP Q1 (V1) - Chi nhánh N2 xác định: Chủ tài khoản số 349.103.415 là Nguyễn Văn T1, sinh năm 1995, trú tại xã B, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh; ngày 14/10/2024, tài khoản số 349.103.415 đã chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản số 0978.676.578 của Ngô Chí T. Cơ quan điều tra xác minh tại địa phương xác định không có người nào tên là Nguyễn Văn T1 có thông tin như trên nên tiếp tục tiến hành xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại văn bản ngày 18/12/2024 của Ngân hàng TMCP Đ (B) - Chi nhánh V2 xác định: chủ tài khoản số 8812.877.899 là Lê Ngọc P, sinh năm 1995, trú tại ấp B, xã P, tỉnh Tây Ninh; ngày 14/10/2024, tài khoản số 8812.877.899 đã nhận được số tiền 1.000.000 đồng từ tài khoản số 0978.676.578 do Ngô Chí T chuyển đến. Cơ quan điều tra xác minh tại địa phương xác định không có người nào tên là Lê Ngọc P có thông tin như trên nên tiếp tục xác minh.
Tại văn bản ngày 18/12/2024, Ngân hàng TMCP Q (MB)- Chi nhánh C (Phòng G) đã xác định, chủ tài khoản số 239.053.979 là Trần Thị Thanh N, sinh năm 2005, trú tại phường P, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 14/10/2024, tài khoản số 239.053.979 đã nhận được số tiền 1.000.000 đồng từ tài khoản số 0978.676.578 do Ngô Chí T chuyển đến. Quá trình điều tra xác định, N không có mặt tại địa phương, không xác định được hiện N đang ở đâu nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2026/HS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Ngô Chí T phạm tội: “Đánh bạc”.
Căn cứ điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Chí T 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt bổ sung; về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16 tháng 3 năm 2026 bị cáo Ngô chí T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Ngô Chí T; sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ theo hướng giảm mức hình phạt tù từ 03 (ba) năm 03 (ba) tháng xuống 03 (ba) năm tù cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo Ngô Chí T thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tạo điều kiện cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Chí T trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét.
Về nội dung: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Ngô Chí T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 14/10/2024, T 02 lần sử dụng chiếc điện thoại di động Iphone XS lắp sim điện thoại mang số thuê bao 0978.676.578, được kết nối mạng Internet truy cập vào trang mạng Kubet qua đường link để đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi xổ số, cụ thể: Hồi 00 giờ 40 phút 17 giây ngày 14/10/2024, T sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi xổ số “27 Lô K” đến khoảng 01 giờ 15 phút cùng ngày thì thua hết. Đến hồi 01 giờ 16 phút 42 giây ngày 14/10/2024, T sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi xổ số “27 Lô K” đến hồi 02 giờ 00 phút 49 giây cùng ngày thì thắng bạc được số tiền 10.000.000 đồng và T đã chuyển số tiền 10.000.000 đồng này vào tài khoản của T. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 14/10/2024 của T là 12.000.000 đồng.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo Ngô Chí T tại phiên tòa và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Ngô Chí T về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật không oan sai.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã có hành vi đánh bạc qua mạng internet trái phép nhằm mục đích thu lợi cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đến nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn và gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo đã giao nộp thêm các tài liệu, chứng cứ: Biên lai nộp số tiền hình phạt bổ sung, số tiền truy thu và tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm (theo biên lai thu tiền 0001855 ngày 27/5/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ); Giấy xác nhận ủng hộ Hội chữ thập đỏ xã Hội Thịnh 500.000 đồng; bị cáo cung cấp bản sao công chứng bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh L của bố bị cáo là ông Ngô Tiến H; và bản sao công chứng Huân chương kháng chiến hàng Nhì của mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị H1; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ rang nên có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và giảm hình phạt tù cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ răn đe phòng ngừa chung và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; vì vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Ngô Chí T là có căn cứ, cần chấp nhận.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Ngô Chí T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Ngô Chí T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2026/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ.
Tuyên bố bị cáo Ngô Chí T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Chí T 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Ngô Chí T cho Ủy ban nhân dân xã, tỉnh Phú Thọ theo dõi, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Ngô Chí T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan CSĐT-CA tỉnh Phú Thọ; - Phòng HTTP –THAHS CA tỉnh Phú Thọ; - TAND khu vực 09 – Phú Thọ; - VKSND khu vực 09 – Phú Thọ; - Phòng THADS khu vực 09 – Phú Thọ; - UBND xã Hội Thịnh, tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. CÁC THẨM PHÁN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |