- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch Thanh H và bị cáo Thạch Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2025/HS-ST Ngày 20 – 6 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Trường Hận
2. Ông Lê Tuấn Kiệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Thạch Thanh H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 07/12/1989, tại tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: ấp G, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Thạch P, sinh năm 1961 và bà Lý Thị B, sinh năm 1964; anh, chị, em ruột có 04 người; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
2. Thạch Thành T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 13/11/1989, tại tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: ấp G, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Nuôi tôm; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Thạch H1, sinh năm 1961 và bà Thạch Thị H2, sinh năm 1963; anh, chị, em ruột có 04 người; tiền sự: Không; tiền án: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 01/2011/HSST ngày 19/01/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xử phạt 01 năm tù về cưỡng đoạt tài sản, chấp hành xong ngày 16/8/2011, đã được xóa án tích; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 40 phút ngày 07/01/2025, bị cáo T đang ở nhà tại ấp G, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, thì bị cáo H đến chơi. Tại đây, bị cáo T rủ bị cáo H hùn tiền mua ma túy về cùng sử dụng, bị cáo Hòa đồng Ý và thỏa thuận mỗi bị cáo hùn 100.000 đồng nhưng bị cáo H không có tiền nên bị cáo T cho mượn. Bị cáo H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94K2-156.44 chở bị cáo T đến hẻm C, khóm F, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để mua ma túy. Khi đến nơi, bị cáo H chạy vào hẻm một đoạn thì quay đậu xe lại dừng xe, bị cáo T xuống xe gặp người thanh niên (không rõ nhân thân) mua một bịch ma túy với giá 200.000 đồng. Bị cáo T cầm bịch ma túy trong tay trái rồi lên xe bị cáo H chở về. Trên đường về, đến đường T, khóm H, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố B kết hợp với Công an phường E, thành phố B bắt quả tang, đồng thời thu giữ: 01 bịch nylon màu trắng có nẹp miệng, gần nẹp miệng có đường viền màu đỏ kích thước 1,5cm x 2,1cm bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 19/KL-KTHS, ngày 17/01/2025, của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể chứa trong 01 (một) bịch nylon (kí hiệu M) là chất ma tuý; loại Methamphetamine; có khối lượng là 0,13380 gam”.
Tại Cáo trạng số: 78/CT-VKS-HS ngày 02/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Thạch Thanh H và bị cáo Thạch Thành T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Thạch Thanh H và bị cáo Thạch Thành T như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Thạch Thanh H và bị cáo Thạch Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Thạch Thanh H từ 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù.
+ Xử phạt bị cáo Thạch Thành T từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine có khối lượng là 0,12778 gam và toàn bộ các vỏ phong bì, vỏ bịch nylon.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội và đề xuất của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 13 giờ 10 phút ngày 07/01/2025, bị cáo Thạch Thanh T1 và bị cáo Thạch Thành T bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,13380 gam Methamphetamine tại đường T, khóm H, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Khối lượng ma túy các bị cáo tàng trữ trái phép là 0, 13380 gam Methamphetamine nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số: 78/CT-VKS-HS ngày 02/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi nêu trên của các bị cáo không những xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy mà còn gây tác hại cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Để có ma túy sử dụng mà các bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vì vậy cần phải xử lý với mức hình phạt tương xứng với mức độ tội phạm đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo nhận thức được sai phạm nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét thấy, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn, vai trò của các bị cáo là ngang nhau. Tuy nhiên, xét nhân thân của bị cáo T vào ngày 19/01/2011 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 01 năm tù về tội cưỡng đoạt tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 16/8/2011, đã được xóa án tích nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt tương xứng với từng bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có chữ ký ghi tên Quách Thanh T2 và 04 (bốn) dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B cùng dòng chữ “19/GĐMT-2025”. Gói niêm phong còn nguyên vẹn (khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,12778 gam và toàn bộ các vỏ phong bì, vỏ bịch nylon) là vật cấm tàng trữ nên tịch thu và tiêu hủy.
Đối với người thanh niên bán ma tuý cho bị cáo H và bị cáo T do không rõ nhân thân nên không làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo H và bị cáo T mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Thạch Thanh H và bị cáo Thạch Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Thạch Thanh H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Thạch Thành T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có chữ ký ghi tên Quách Thanh T2 và 04 (bốn) dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B cùng dòng chữ “19/GĐMT-2025”. Gói niêm phong còn nguyên vẹn (khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,12778 gam và toàn bộ các vỏ phong bì, vỏ bịch nylon)
(Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2025).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Thạch Thanh H và bị cáo Thạch Thành T mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - CQCSĐT Công an tỉnh Bạc Liêu; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Bạc Liêu; - VKSND thành phố Bạc Liêu; - Chi cục THADS thành phố Bạc Liêu; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Yến Ly |