vanban.org

Bản án 72/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 20/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Quang T: 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 06 tháng 12 năm 2024. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm Trần Quang T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/HS-ST
Ngày 20 tháng 5 năm 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU- TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quyết Tâm.

+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bình và bà Nguyễn Ngọc Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm là phòng xét xử số 1, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam khu vực huyện V, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 63/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:

Trần Quang T, sinh ngày 02/9/1995 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi đăng ký thường trú: Số C, tổ C, khu phố B, phường T, thànhphố B, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở hiện tại (không đăng ký tạm trú): tổ I, ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động tự do.Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Quang T1, sinh năm 1965 (còn sống) và bà Kiều Thị P (đã chết). Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ, con.

Tiền án: Ngày 16/01/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 06tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số07/2024/HS-ST ngày 16/01/2024. Ngày 27/4/2024, Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 08/3/2024 chấp hành xong án phí.

Tiền sự: Không có.

Nhân thân: Ngày 17/01/2020, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 03/QĐ-TA ngày 17/01/2020).

Ngày 31/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu áp dụng biện pháp xử lýhành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng về hành vi về hànhvi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 37/QĐ- TA ngày 31/3/2021).

Bắt quả tang và tạm giữ ngày 24/12/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tạiPhân trại tạm giam khu vực huyện V.

Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần là phòng xét xử trực tuyến đặt tại Trạigiam Công an tỉnh Đ- Phân trại tạm giam khu vực huyện V.Có sự tham gia giám sát, bảo vệ của các cán bộ, chiến sỹ của Phân trại tạmgiam khu vực huyện V gồm các ông:

1. Trung tá Hàng Minh H.

2. Binh nhất Nguyễn Gia C.

3. Binh nhất Hoàng Phi L.

- Người làm chứng:

+ Ông Trần Quang T1, sinh năm 1965; Địa chỉ: Tổ I, ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

+ Ông Trần Quang T2, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ I, ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

+ Ông Thái Hữu T3, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt; những người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quang T và người tên L (không rõ họ, địa chỉ) quen biết nhau và thường sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 02/12/2024, T đi chơi cùng L tại khu vực phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì được L cho 02 gói nylon bên trong chứa ma túy, 01 nỏ thủy tinh và 01 quẹt ga màu đỏ trắng. T đem ma túy và dụng cụ L cho về cất giấu tại nhà thuộc ấp A, xã T, huyện V để sử dụng khi có nhu cầu.

Khoảng 19 giờ ngày 04/12/2024, T mang theo gói nylon chứa ma túy (bỏ vào bóp) và cùng cha T là ông Trần Quang T1 đến chơi và uống rượu tại phòng trọ của anh Thái Hữu T3, địa chỉ khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong lúc uống rượu, T mở bóp lấy 02 gói nylon chứa tinh thể màu trắng được hàn kín để xuống nền nhà và nói đây là ma túy đá rồi cất vào bóp. Anh T3 thấy vậy cười và không nói gì, còn ông T1 tức giận rồi bỏ về trước. Sau khi về nhà, ông T1 đến Công an xã T trình báo sự việc con mình sử dụng ma túy, đồng thời điện thoại nhờ T3 chở T về nhà tại ấp A, xã T, huyện V. Sau đó T3 điều khiển xe mô tô chở T đến uống nước tại quán C1 thuộc tổ A, khu phố E, phường L, thành phố B. Triệu vào nhà vệ sinh quán lấy 02 gói ma túy từ trong bóp bỏ vào vỏ hộp singum và cất vào túi màu xanh đen đeo bên người, rồi nói anh T3 chở T về nhà ông T1. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày T3 và T về đến nhà, T vào phòng ngủ của ông T1 cất túi xách chứa 02 gói ma túy vào góc giường, rồi ra phòng khách uống bia cùng với ông T1 và T3. Lúc này T có biểu hiện loạn thần chửi bới nên ông T1, T3 và Trần Quang T2 (anh trai T) đến Công an xã T trình báo sự việc. Công an xã T lập biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm và mời T làm việc, nhưng T hoảng loạn và không làm việc được nên Công an xã T giao cho gia đình quản lý.

Đến khoảng 10 giờ ngày 06/12/2024, lực lượng Công an xã T phối hợp với Công an huyện V kiểm tra hành chính phòng ngủ của ông Trần Quang T1 phát hiện 02 gói nylon màu trắng chứa ma túy, 01 nỏ thủy tinh và 01 quẹt ga màu đỏ trắng. Tiến hành xét nghiệm xác định T dương tính với ma túy loại Methamphetamine, đồng thời T thừa nhận hành vi tàng trữ ma túy, nên Công an xã T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.

+ Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ tại nơi ở Trần Quang Triệu: 01 nỏ thủy tinh bên trong dính chất màu đen, tinh thể màu trắng là ma túy; 02 gói nylon hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy và 01 quẹt ga màu đỏ trắng.

- Ông Nguyễn Đình Công T4 (chủ quán C1 phố 1960) cung cấp 01 USB nhãn hiệu Kington (được lưu giữ tại hồ sơ vụ án).

+ Tại Kết luận giám định số 2511/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận ma túy thu giữ của Trần Quang T:

- Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2699 gam, loại Methamphetamine.

- Mẫu chất màu đen trắng bám dính trong 01 nỏ thủy tinh (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

H1 lại đối tượng sau giám định trong niêm phong số 2511/KL- KTHS.

Tại bản Cáo trạng số: 73/CT-VKSVC ngày 06/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu để xét xử Trần Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quang T từ 16 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2024.

+ Xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định (được niêm phong kí hiệu 2511/KL-KTHS), 01 nỏ thủy tinh và 01 quẹt ga màu đỏ trắng.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.

. Về tội danh và hình phạt:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 04/12/2024, tại nhà ông Trần Quang T1 thuộc tổ I, ấp A, xã T, huyện V, Trần Quang T có hành vi tàng trữ trái phép 0,2699 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Như vậy, bị cáo Trần Quang T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh như đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm các quy định thuộc chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn với mức đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống tôn trọng pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

- Về tình tiết tăng nặng: Ngày 16/01/2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 16/01/2024. Ngày 27/4/2024, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 08/3/2024 chấp hành xong án phí. Bị cáo chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

. Đối với Thái Hữu T3 không biết rõ T tàng trữ trái phép chất ma túy, sau khi thấy T có biểu hiện hoảng loạn do sử dụng trái phép chất ma túy, T3 cùng ông T1 và anh T2 đến Công an trình báo sự việc, nên không xử lý đối với Thái Hữu T3.

Đối với người tên L ở khu vực phường T, thành phố B cho Trần Quang T ma túy, dụng cụ sử dụng hiện chưa xác định được, yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.

. Về xử lý vật chứng:

- Cần tịch thu tiêu hủy 01 nỏ thủy tinh và 01 quẹt ga màu đỏ trắng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

- Cần tịch thu tiêu hủy đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số được niêm phong kí hiệu 2511/KL-KTHS;

. Về án phí: Do bị cáo phạm tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

+ Xử phạt bị cáo Trần Quang T: 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 06 tháng 12 năm 2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 nỏ thủy tinh và 01 quẹt ga màu đỏ trắng.

- Tịch thu tiêu hủy đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 2511/KL-KTHS ngày 12/12/2024;

(Các vật chứng, tài sản này đã được Cơ quan điều tra chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/5/2025).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Quang T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ