vanban.org

Bản án 72/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 25/06/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/06/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo; Giảm hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đối với Lê Đắc Mạnh A.

Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Điều luật áp dụng và hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đắc Mạnh anh vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo; Giảm hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đối với Lê Đắc Mạnh A.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/HS-PT
Ngày 25-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trường và bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Nam Phương – Thư ký TAND tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thơi- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 45/2025/TLPT-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Lê Đắc Mạnh A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

- Bị cáo có kháng cáo: Lê Đắc Mạnh A, sinh ngày 28/4/2005 tại Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Đắc M và bà Phạm Thị L; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/12/2024 đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Bùi Trí C, sinh năm 2005. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương.

- Ngoài ra còn có 01 bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Đắc Mạnh A không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/8/2024, Mạnh A mượn xe mô tô của Lê Thị Hương L1, sinh năm 2005 ở thôn V, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương (là em họ Mạnh A) để đi về nhà. L1 đồng ý, giao xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen-đỏ cho Mạnh A điều khiển đi (L1 không biết Mạnh A chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định). Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/8/2024, Mạnh A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen-đỏ nói trên chở phía sau anh Bùi Trí C đi từ thôn Đ, xã K đến đường liên xã V. Lúc này, Nguyễn Văn C1 (trước đó đã sử dụng bia) điều khiển xe máy điện màu đỏ, nhãn hiệu 133M, không biển kiểm soát đi từ hướng tỉnh lộ 396 về nhà ở thôn T, xã V, huyện N và đi phía trước Mạnh A. Khi đi đến đoạn đường đối diện trường Tiểu học, là đoạn đường thẳng hai chiều, không có dải phân cách, có vạch sơn màu vàng đứt đoạn (vạch 1.1) để phân chia đường thành hai chiều chạy riêng biệt; tại hai bên mép đường có vạch sơn liền màu trắng rộng 20 cm (vạch 3.1 vạch giới hạn mép dường xe chạy) có cạnh gần nhất cách mép đường 15 cm, mặt đường bằng phẳng được trải bằng bê tông nhựa có bề rộng là 700 cm. Mạnh A điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 50-60km/h ở phần đường bên phải theo chiều đi, cách mép đường bên phải khoảng 01m. Khi còn cách nhà C1 khoảng 7m, C1 quan sát phía trước, không quan sát phía sau, rồi bật xi nhan trái để rẽ trái vào cổng nhà. Khi cách cổng nhà Cẩm khoảng 5m, C1 cho xe di chuyển từ phần đường bên phải chếch sang phần đường bên trái để hướng về cổng nhà C1. Lúc này Mạnh A quan sát xe của C1 ở phía trước cách đầu xe mô tô của Mạnh A khoảng 5m. Do khoảng cách gần và di chuyển với tốc độ cao nên Mạnh A đánh lái sang trái để tránh nhưng phần đầu xe, thân xe bên phải của Mạnh A va chạm với tay lái bên trái, thân xe bên trái xe máy điện của C1, tại vị ví ở phần đường bên trái chiều đi cách mép đường bên trái khoảng 2,3m. Sau va chạm, xe máy điện bị trượt đi khoảng 3-4m rồi đổ nghiêng trái, đầu quay hưởng đi xã V, đuôi quay hướng đi tỉnh lộ 396, Cẩm ngã tại vị trí xe máy điện đổ; xe máy do Mạnh A điều khiển tiếp tục di chuyển về hướng xã V rồi đổ nghiêng phải ở phần đường bên phải theo chiều đi. Sau va chạm để lại các dấu vết tại hiện trường: Vị trí (1) là vết trà sát đứt đoạn dài 80 cm, rộng 0,5 cm theo chiều đường tỉnh lộ 396 đi vào xã V; đầu vết cách mép đường bên trái 230 cm; cuối vết cách mép đường bên trái 260 cm; Vị trí (2) là vết trà sát đứt đoạn tạo thành hai vệt song song dài 390 cm, rộng 01 cm có chiều hướng theo chiều khảm nghiệm, khoảng cách hai vệt song song là 05 cm; đầu vết cách mép đường bên trái 275 cm, cách cuối vết (1) 30 cm; Cuối vết trùng với mặt ngoài thanh kim loại gạt để chân chống phụ xe máy điện cách mép đường bên trái là 340 cm. Vị trí (3) là vết trà sát đứt đoạn dài 310 cm rộng 0,5 cm có hướng theo chiều khám nghiệm đầu vết cách mép đường bên trái 205 cm, cách đầu vết (2) 60 cm, cuối vết cách trùng với đầu mút tay phanh bên trái cách mép đường 245 cm; Vị trí (5) là vết trượt, dập có đất ở lề đường bên trái trước nhà anh Nguyễn Văn C1 sinh năm 1989, Nguyễn Văn C2 sinh năm 1986, vết dài 750 cm, rộng nhất 30 cm có hướng theo chiều khám nghiệm.

Đầu vết cách mép đường bên trái 40 cm, cách tâm trục bánh trước xe máy điện là 700 cm, cuối vết cách mép đường 25 cm. Vị trí (6) là vết màu đỏ tươi dạng máu, có kích thước (60x 50) cm ở trên mặt đường, có tâm cách mép đường 30 cm, cách cuối vết (5) 350 cm, cách cột điện ở lề đường bên trái (tiếp giáp giữa nhà anh Nguyễn Văn C3, Phạm Duy K) 50 cm theo chiều đi vào xã V. Vị trí (7) là vết trà sát đứt đoạn dài 1030 cm, rộng 0,5 cm có hướng theo chiều khám nghiệm, hướng lề đường bên trái qua lề đường bên phải; đầu vết cách mép đường 140 cm, cách cuối vết (6) 335 cm, cuối vết cách mép đường 460 cm. Vi trí (8) là vết trà sát dài 800 cm rộng nhất 1 cm có hướng theo chiều khám nghiệm, hướng lề đường bên trái qua lề đường bên phải. Đầu vết là vết trà sát đứt đoạn, cuối vết là vết trà sát liên tục trên mặt đường. Đầu vết cách mép đường bên trái 300 cm cách cuối vết (7) 440 cm, cuối vết trùng với để chân người ngồi sau bên phải xe mô tô không đeo biển kiểm soát nhân hiệu Honda màu sơn đen, số loại VISION cách mép đường bên trái 560 cm; còn anh C bị ngã nằm trên phần đường bên trái ở ngay vị trí cột điện trước cổng nhà anh Nguyễn Văn C3, sinh năm 1986 ở thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương. Hậu quả: anh C bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện E - Hà Nội xuất viện ngày 19/9/2024; Mạnh A bị thương nhẹ được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H, xuất viện ngày 18/8/2024; Cẩm bị thương nhẹ không điều trị tại cơ sở y tế nào; hai phương tiện bị hư hỏng.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở hồi 21 giờ 40 phút ngày 17/8/2024 đối với Nguyễn Văn C1 là 0,440 mg/L.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 21 ngày 09/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND huyện N, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, không gắn biển kiểm soát, màu sơn đen- đỏ, đã qua sử dụng, số khung: RLHJF5819GY962953, số máy: JF66E0894309, xe đăng ký ngày 14/9/2018 tại thời điểm ngày 17/8/2024 là 17.000.000 đồng. Giá trị thiệt hại của xe máy điện nhãn hiệu 133M, không biển kiểm soát, màu sơn đỏ, đã qua sử dụng, số khung: không có; số máy MDHY48V350W2307230934 tại thời điểm ngày 17/8/2024 là 1.000.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 27 ngày 30/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND huyện N, kết luận: Giá trị của xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen- đỏ, đã qua sử dụng, số khung: RLHJF5819GY962953, số máy: JF66E0894309, xe đăng ký ngày 14/9/2018 tại thời điểm ngày 05/10/2022 là 18.000.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 397/ KLTTCT ngày 29/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H đối với Bùi Trí C, kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Bùi Trí C tại thời điểm giám định là 63%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 381/ KLTTCT ngày 17/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H đối với Lê Đắc Mạnh A, kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Lê Đắc Mạnh A thời điểm giám định là: Không có mục xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra.

Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 402/ KLTTCT ngày 01/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H đối với Nguyễn Văn C1, kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn C1 tại thời điểm giám định là 01%.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Đắc Mạnh A đã bồi thường cho bị hại Bùi Trí C số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn C1 đã bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng. Bị hại không có đề nghị nào khác về trách nhiệm dân sự và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Lê Đắc Mạnh A.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Văn C1.

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đắc Mạnh A, Nguyễn Văn C1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Xử phạt bị cáo Lê Đắc Mạnh A 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 03 (Ba) năm 01 (Một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

Ngoài ra bản án còn quyết định án phí hình sự sơ thẩm.

Ngày 03/3/2025, bị cáo Lê Đắc Mạnh A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Tại phiên toà:

Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị HĐXX chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm, đề nghị HĐXX:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Giữ nguyên hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo Lê Đắc Mạnh A. .

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Lê Đắc Mạnh A.

Xử phạt bị cáo Lê Đắc Mạnh A 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm;

Lời khai của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị hại; người làm chứng và phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, nên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/8/2024, Lê Đắc Mạnh A (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen-đỏ, không biển kiểm soát hướng tỉnh lộ 396 đi UBND xã V, chở sau anh Bùi Trí C. Khi đi đến đoạn đường liên xã thuộc địa phận thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương trong điều kiện trời tối đã không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước, không làm chủ tốc độ dẫn tới va chạm vào tay lái bên trái, thân xe bên trái xe máy điện do Nguyễn Văn C1 (nồng độ cồn là 0,440mg/L khí thở) đang điều khiển xe máy điện đi cùng chiều đang bật đèn tín hiệu xi nhan trái và rẽ trái sang đường nhưng C1 không thực hiện việc giảm tốc độ và có thể dừng lại một cách an toàn để quan sát trước khi chuyển hướng xe chạy. Hậu quả va chạm: Anh Bùi Trí C bị tổn thương cơ thể là 63% (Sáu mươi ba phần trăm); Nguyễn Văn C1 bị xây xát da gây tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1% (Một phần trăm). Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, xe máy điện nhãn hiệu M133 bị hư hỏng giá trị thiệt hại của xe mô tô là 17.000.000 đồng, giá trị thiệt hại của xe máy điện là 1.000.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, Toà án nhân dân huyện Ninh Giang đã kết án bị cáo Lê Đắc Mạnh A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ và đúng pháp luật. Bị cáo không kháng cáo về tội danh.

Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo thì thấy:

Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, áp dụng đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 03 năm 03 tháng tù là phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện ông nội bị cáo có huy chương kháng chiến, là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt tù cho bị cáo. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, không chấp nhận nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo; Giảm hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đối với Lê Đắc Mạnh A.

Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Lê Đắc Mạnh A.

Xử phạt bị cáo Lê Đắc Mạnh A 03 (Ba) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kề từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án (25/6/2025)

Cỡ chữ