vanban.org

Bản án 72/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S1 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố và hợp đồng mượn tài sản” đối với bà Nguyễn Thị Hồng N.

Buộc bà Nguyễn Thị Hồng N có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần S1 với tổng số tiền 30.717.500 (ba mươi triệu bảy trăm mười bảy nghìn năm trăm) đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 23.303.500 đồng; tiền lãi trong hạn là 3.794.000 đồng; tiền lãi quá hạn là 1.896.000 đồng; phí quản lý hồ sơ là 1.724… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng cầm cố"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S1 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố và hợp đồng mượn tài sản” đối với bà Nguyễn Thị Hồng N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/DS-ST
Ngày: 09-5-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng cầm cố
và hợp đồng mượn tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Ba;

2. Ông Phan Văn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuỳ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 461/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố và hợp đồng mượn tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXX-DSST ngày 11 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 31/2025/QĐST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần S1; địa chỉ trụ sở: Số A, đường N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông K, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản uỷ quyền số 1991/2024/UQ-SVN ngày 01/01/2024 của Giám đốc Công ty về việc uỷ quyền thực hiện hoạt động tố tụng) (anh T vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 24/8/2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty cổ phần S1 (sau đây gọi tắt là Công ty) và người đại diện hợp pháp của Công ty trình bày:

Bà N có ký hợp đồng cầm cố tài sản T2M240101004NA21X đối với Công ty TNHH S2 nay là Công ty cổ phần S1 có ngay vào ngày 15/01/2024 và đã nhận số tiền là 24.530.000 đồng của Công ty. Thời hạn cầm cố 18 tháng tính từ ngày 15/01/2024 đến ngày 15/7/2025, lãi suất cầm cố 1,1%/tháng và phí quản lý hồ sơ 0,5%. Bà N cam kết thanh toán tiền kỳ hàng tháng với số tiền 1.579.223,43 đồng vào ngày 15 hàng tháng tính từ tháng 02/2024 đến tháng 7/2025. Nếu quá hạn phải trả phí chậm trả 150% lãi suất quy định và phí quản lý hồ sơ.

Bà N đã cầm cố, thế chấp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu đen bạc, biển số 70D1-712.73 theo phiếu đăng ký cầm cố xe máy ngày 15/01/2024 và bà N đã giao 01 bản chính giấy đăng ký xe mô tô, xe gắn máy do Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng N đứng tên chủ sử dụng biển số biển số 70D1-712.73 cho công ty.

Ngày 15/01/2024 Công ty đã cho bà N mượn lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu đen bạc, biển số 70D1-712.73 trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 15/01/2024 đến ngày 15/02/2024.

Từ khi cầm cố tài sản đến nay bà N đã trả được số tiền 2.200.000 đồng, trong đó nợ gốc là 0 đồng, tiền lãi trong hạn là 269.830 đồng, lãi quá hạn: 751.027 đồng, 122.650 đồng phí quản lý hồ sơ, 1.226.500 đồng phí hao mòn, bảo dưỡng xe. Đến ngày 26/02/2024 Công ty không liên lạc được với bà N và bà N cũng không trả thêm khoản tiền nào khác cho Công ty, không trả lại tài sản cầm cố cho Công ty. Đến nay Công ty không biết bà N đang sinh sống ở đâu và thông tin về chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu đen bạc, biển số 70D1-712.73

Trong đơn khởi kiện đề ngày 24/8/2024, Công ty cổ phần S1 yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N có nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, lãi và phí phát sinh đến ngày 24/8/2024 với số tiền 36.770.470 đồng trong đó tiền gốc là 24.530.000 đồng, lãi cố định 1% là 1.618.980 đồng, lãi quá hạn 0,55% trên dư nợ thực tế là 809.490 đồng, phí quản lý hồ sơ 0,5% là 735.900 đồng, phí hao mòn bão dưỡng xe là 7.359.000 đồng, phí thanh lý trước hạn là 1.717.100 đồng và chịu lãi, chi phí phát sinh theo hợp đồng kể từ ngày 24/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Trường hợp bà N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nêu trên Công ty cổ phần S1 được yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản đảm bảo là xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu đen bạc, biển số 70D1-712.73 để thu hồi nợ.

Sau khi xem xét các hợp đồng cầm cố, mượn tài sản nay Công ty cổ phần S1 thay đổi yêu cầu khởi kiện buộc bà N phải có nghĩa vụ trả lại toàn bộ nợ gốc, lãi và phí phát sinh đến ngày 28/02/2025 số tiền là 31.172.817 (ba mươi mốt triệu một trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm mười bảy) đồng. Trong đó tiền nợ gốc là 24.530.00 đồng; tiền lãi cố định 1,1% trên dư nợ thực tế là 3.237.960 đồng; tiền lãi quá hạn 0,55% trên dư nợ thực tế là 1.618.980 đồng, phí quản lý hồ sơ 0,5% là 1.471.800. Đồng thời bà N phải tiếp tục chịu lãi và chi phí phát sinh theo hợp đồng cấm cố kể từ ngày 28/02/2025 cho đến khi trả hết nợ.

Ngày 25/02/2025 Công Ty Cổ Phần S1 rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà N về số tiền phí bảo dưỡng mượn xe 5% ghi trong đơn kiện là 7.359.000 đồng; phí thanh lý trước hạn là 1.717.100 đồng và số tiền gốc 1.226.500 đồng.

- Công ty Cổ Phần S1 không yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, xử lý tài sản đảm bảo là xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu đen bạc, biển số 70D1-712.73 để thu hồi nợ trong trường hợp bà N không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.

- Công ty cổ phần S1 có ngay đồng ý trả lại 01 (một) bản chính giấy đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 001036 do Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng N đứng tên chủ sử dụng biển số đăng ký 70D1-712.73, sau khi bà N trả hết nợ.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà N không đến Tòa làm việc, không nộp văn bản trình bày ý kiến cho Toà án.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 303, 309, 310, 311, 312, 313, 314, 316, 468, 494, 497, 499 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S1 Có Ngay.

Buộc bà Nguyễn Thị Hồng N phải thanh toán nợ cho Công ty cổ phần S1 với tổng số tiền tính đến ngày 09/5/2025 là 30.717.500 đồng; trong đó tiền nợ gốc là 23.303.500 đồng; tiền lãi trong hạn là 3.794.000 đồng; tiền lãi quá hạn là 1.896.000 đồng; phí quản lý hồ sơ là 1.724.000 đồng. Đồng thời yêu cầu bà N trả tiền lãi, chi phí phát sinh cho đến khi trả dứt nợ theo thoả thuận trong hợp đồng cầm cố đã ký kết với Công ty.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S1 đối với yêu cầu về phí bảo dưỡng mượn xe số tiền 7.359.000 đồng, phí thanh toán trước hạn 1.717.100 đồng và số tiền gốc 1.226.500 (một triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm) đồng.

Ghi nhận Công ty Cổ Phần S1 không yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, xử lý tài sản đảm bảo là xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu đen bạc, biển số 70D1-712.73 để thu hồi nợ trong trường hợp bà N không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.

Ghi nhận Công ty cổ phần S1 đồng ý trả lại 01 (một) bản chính giấy đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 001036 do Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng N đứng tên chủ sử dụng biển số đăng ký 70D1-712.73, sau khi bà N trả hết nợ.

Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty S1 khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N thanh toán số tiền cầm cố tài sản theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe đã ký kết. Do vậy, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng cầm cố và hợp đồng mượn tài sản theo quy định khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong các hợp đồng bà N đã ký kết, thể hiện bà N có địa chỉ cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự

Về sự vắng mặt của các đương sự: xét thấy người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Lê Thanh T vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt và bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định pháp luật.

Về nội dung:

Công ty cổ phần S1 yêu cầu bà N thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty tính đến hết ngày 28/02/2025 với 31.172.817 (ba mươi mốt triệu một trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm mười bảy) đồng. Trong đó tiền nợ gốc là 24.530.00 đồng; tiền lãi cố định 1,1% trên dư nợ thực tế là 3.237.960 đồng; tiền lãi quá hạn 0,55% trên dư nợ thực tế là 1.618.980 đồng, phí quản lý hồ sơ 0,5% là 1.471.800. Đồng thời bà N phải tiếp tục chịu lãi và chi phí phát sinh theo hợp đồng cấm cố kể từ ngày 28/02/2025 cho đến khi trả hết nợ.

Để chứng minh yêu cầu khởi kiện, Công ty đã cung cấp các tài liệu có liên quan, hợp đồng cầm cố tài sản số T2M240101004NA21X, phụ lục hợp đồng, giấy chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm và giấy mượn xe đề ngày 15/01/2024 ký kết giữa bà bà Nguyễn Thị Hồng N và Chi nhánh T1 01 – Công ty TNHH S3 (Công ty TNHH S3 nay là Công ty cổ phần S1).

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho bà N nhưng bà N không đến Tòa án làm việc và không có văn bản trình bày ý kiến về vụ kiện. Điều này chứng minh bà N không phản đối lời trình bày và các chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp.

Hợp đồng cầm cố tài sản số T2M240101004NA21X ngày 15/01/2024 và Phụ lục hợp đồng cầm cố được ký kết giữa bà Nguyễn Thị Hồng N và Chi nhánh T1 01 – Công ty TNHH S1 phù hợp quy định tại các Điều 311, 312, 313, 314, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên hợp pháp.

Công ty thừa nhận bà N đã thanh toán cho Công ty số tiền 2.200.000 đồng, trong đó nợ gốc là 0 đồng, tiền lãi trong hạn là 269.830 đồng, lãi quá hạn: 751.027 đồng, 122.650 đồng phí quản lý hồ sơ, 1.226.500 đồng phí hao mòn, bảo dưỡng xe, đây là chứng cứ không phải chứng minh. Từ sau ngày 26/02/2024 Công ty không liên lạc được với bà N. Bà N đã ngưng thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi nên đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận trong hợp đồng cầm cố ngày 15/01/2024 và khoản 3 Điều 311 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó công ty khởi kiện bà N phải thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi, phí quản lý hồ sơ là có căn cứ.

Đối với số tiền 1.226.500 đồng phí hao mòn, bảo dưỡng xe bà N đã thanh toán cho công ty xét thấy các bên được giao dịch mượn xe trên cơ sở tự nguyện nhưng không được trái quy định của pháp luật. Tại khoản 3 Điều 497 của BLDS năm 2015 quy định quyền lợi của bên mượn tài sản: “bên mượn tài sản không phải chịu trách nhiệm về những hao mòn tự nhiên của tài sản mượn”. Do bà N là bên mượn xe nên không phải chịu các chi phí hao mòn tự nhiên khi sử dụng xe đã mượn theo quy định, yêu cầu của Công ty buộc bà N phải thanh toán chi phí hao mòn là không có căn cứ. Bên cạnh đó, Tại mục 5 của Phụ lục Hợp đồng cầm cố, hai bên đã thoả thuận về việc xử lý tài sản cầm cố, theo đó nếu giá trị thu hồi từ việc xử lý tài sản cầm cố không đủ thanh toán nợ gốc, nợ lãi thì bà N phải tiếp tục nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại cho Công ty. Thoả thuận về phí hao mòn xe theo Giấy mượn xe mâu thuẫn với mục 5 của Phụ lục Hợp đồng cầm cố, trái pháp luật nên vô hiệu theo Điều 123 của BLDS năm 2015. Người đại diện theo uỷ quyền của Công ty xác định trên thực tế Công ty chưa thực hiện việc bảo dưỡng xe nên số tiền 1.226.500 đồng phí hao mòn và bảo dưỡng xe bà N đã trả cho Công ty được khấu trừ vào số tiền nợ gốc. Như vậy số tiền gốc còn lại là 23.303.500 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án công ty cổ phần S1 rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với phí bảo dưỡng mượn xe 5%, với số tiền 7.359.000 đồng, phí thanh toán trước hạn 1.717.100 đồng và số tiền gốc 1.226.500 đồng, nên Hội đồng xét xử xem xét đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này.

Từ những nhận định nêu trên, số tiền nợ gốc, nợ lãi bà N nợ công ty được tính lại như sau:

- Tiền nợ gốc sau khi khấu trừ số tiền 1.226.500 đồng phí hao mòn và bảo dưỡng xe bà N đã đóng còn lại là 23.303.500 đồng.

- Tiền nợ lãi cố định trên số tiền nợ gốc từ ngày 15-02-2024 đến nay là: 23.303.500 đồng x 1,1%/tháng x 14 tháng 24 ngày = 3.794.000 đồng;

- Tiền nợ lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc từ ngày quá hạn (ngày 15-02-2024) đến nay là: 23.303.500 đồng x 0,55%/tháng x 14 tháng 24 ngày = 1.896.000 đồng;

- Phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng trên số tiền nợ gốc từ ngày 12-02-2024 đến nay là: 23.303.500 đồng x 0,5%/tháng x 14 tháng 24 ngày = 1.724.000 đồng.

Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty, buộc bà N có nghĩa vụ trả cho Công ty tổng số tiền 30.717.500 đồng trong đó số tiền nợ gốc là 23.303.500 đồng; Tiền lãi trong hạn là 3.794.000 đồng; tiền lãi quá hạn là 1.896.000 đồng; phí quản lý hồ sơ là 1.724.000 đồng.

Về xử lý tài sản cầm cố và hợp đồng mượn tài sản: Công ty đã đăng ký giao dịch đảm bảo 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu đen bạc, biển số 70D1-712.73 do bà Nguyễn Thị Hồng N đứng tên chủ sở hữu trên hệ thống trực tuyến của cục Đ với số đăng ký là 1529594757 để đảm bảo cho hợp đồng cầm cố ngày 15/01/2024. Ngày 15/01/2024 Công ty đã cho bà N mượn lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu đen bạc, biển số 70D1-712.73 trong thời hạn 01 tháng, chậm nhất là ngày 15/02/2024 bà N phải trả lại xe máy.

Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, Công ty cổ phần S1 thay đổi yêu cầu khởi kiện cụ thể là Công ty Cổ Phần S1 không yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, xử lý tài sản đảm bảo là xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu đen bạc, biển số 70D1-712.73 để thu hồi nợ trong trường hợp bà N không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Đồng thời Công ty cổ phần S1 đồng ý trả lại 01 (một) bản chính giấy đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 001036 do Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng N đứng tên chủ sử dụng biển số đăng ký 70D1-712.73, sau khi bà N trả hết nợ., nên các vấn đề này được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Do chấp nhận yêu cầu yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S1 nên Công ty không phải chịu án phí hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí công ty đã nộp.

+ Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu án phí theo quy định.

Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147 227, 228, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 303, 309, 310, 311, 312, 313, 314, 316, 468, 494, 497, 499 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S1 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố và hợp đồng mượn tài sản” đối với bà Nguyễn Thị Hồng N.

Buộc bà Nguyễn Thị Hồng N có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần S1 với tổng số tiền 30.717.500 (ba mươi triệu bảy trăm mười bảy nghìn năm trăm) đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 23.303.500 đồng; tiền lãi trong hạn là 3.794.000 đồng; tiền lãi quá hạn là 1.896.000 đồng; phí quản lý hồ sơ là 1.724.000 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/5/2025) cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất thoả thuận trong hợp đồng cầm cố.

2. Ghi nhận Công ty Cổ Phần S1 không yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, xử lý tài sản đảm bảo là xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu đen bạc, biển số 70D1-712.73 để thu hồi nợ trong trường hợp bà N không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.

Ghi nhận Công ty cổ phần S1 đồng ý trả lại 01 (một) bản chính giấy đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 001036 do Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng N đứng tên chủ sử dụng biển số đăng ký 70D1-712.73, sau khi bà N trả hết nợ.

3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S1 đối với yêu cầu về phí bảo dưỡng mượn xe số tiền 7.359.000 đồng, phí thanh toán trước hạn 1.717.100 đồng và số tiền gốc 1.226.500 (một triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm) đồng.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Công ty cổ phần S1 không phải chịu án phí, hoàn trả cho công ty số tiền 919.262 (chín trăm mười chín nghìn hai trăm sáu mươi hai) đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0009814 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

+ Bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 1.535.875 (một triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn tám trăm bảy mươi lăm) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ